Showing posts with label review. Show all posts
Showing posts with label review. Show all posts

Thursday, August 02, 2007

Blow-Up

iThe image “http://www.marmalade-skies.co.uk/blowup1.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.



Tối qua xem Blow-up để tưởng niệm Michalangelo Antonioni mới qua đời hôm 30/7 (cùng ngày với Ingmar Bergman). Kết luận chẳng hiểu gì cả nên không dám bốc phét nhiều. Vài ý thôi:

- Cinematography đẹp.

- Cảm giác phim này rất có tính hiện sinh, nhưng là một thứ hiện sinh nghiệt ngã và ironic chứ không phải poetic và buồn đau như phim của Ingmar Bergman chẳng hạn. Theme trong phim là sự hoang mang, sự lạ lẫm và cô đơn của con người trong một thế giới như thể được tạo thành bởi các vật thể được ghép lại (và tất nhiên Thượng đế đã chết). Nhân vật chính trong phim lang thang từ chỗ này tới chỗ khác, vô mục đích, và nhanh chóng chán chường với mọi người, mọi thứ. Những thứ khác có thể có (hay không có): sự lẫn lộn giữa thực và ảo, giữa sự tồn tại của cái gọi là sự thực khách quan (?) với những sự thực theo các cách nhìn và vị trí nhìn khác nhau perspective) (you believe what you see or you see what you believe?); vai trò của photography như một cách nhìn khác, một thực tại khác và khả năng phản ánh và thao túng của nó với thực tại; các giá trị của văn hóa đại chúng; sự buồn chán, lạc lõng, chán ghét tất cả (trong đó có cả bản thân) của thế hệ 60.

- Nhiều cảnh quay vừa powerful vừa ironic: Ví dụ cảnh cuối phim khi nhân vật chính cũng nhập cuộc chơi với quả bóng tennis ảo; đoạn anh ta đi nghe nhạc rock rồi tranh cướp khúc thân cây đàn mà ca sĩ trên sân khấu đập nát xong rồi khi đi ra đường thì thản nhiên vứt xuống vỉa hè, một chú khác thấy thế cầm lên xem xem rồi cũng vứt đi; hay đoạn anh ta vào một chỗ các bạn đang xì ke hỏi một cô gái đang phê “I thought you were going to Paris”, cô này trả lời “I am”…

Vài cái khác lượm lặt:
- Nghe nói kịch bản phim này ban đầu là thriller nghiêm túc có cả nhân vật chú ám sát nhưng rồi vì một phần là hết kinh phí, một phần là Antonionio theo phong cách ngẫu hứng khi làm đạo diễn, đạo diễn ngay tại chỗ mà không cần bám sát kịch bản nên cuối cùng bộ phim rẽ sang một hướng khác hẳn, không còn là một thriller thực sự nữa.

- Phim này là phim đầu tiên có cảnh quay nude toàn thân phía trước của phụ nữ. Khi chiếu ở Mỹ, các khán giả Mỹ xếp hàng cả dãy dài vì nghe nói lần đầu tiên sẽ có thể thoáng nhìn thấy public hair (ơ cái này không dịch được ra tiếng Việt nhỉ) của cô diễn viên (hình như cũng nổi tiếng) trên màn ảnh lớn. Trong phim cũng có một cảnh threesome và một cảnh một cô vừa làm tình với một anh vừa nhìn anh hàng xóm đang chõ mắt vào xem bằng một khuôn mặt rất biểu cảm, và rất khó diễn đạt là cô ta đang cảm thấy gì. Nhưng nói thế thôi chứ chẳng có cảnh sex nào explicit cả. So với các phim bây giờ thì tất nhiên là chẳng ăn nhằm gì về đoạn erotic.

The image “http://image.guardian.co.uk/sys-images/Film/Pix/pictures/2006/07/27/blowupArthurEvanscourtesyPhilippeGarner512.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.

The Curious Incident of the Dog in the Night-time

The image “http://images.amazon.com/images/P/0385659806.01.LZZZZZZZ.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.


...là tên một cuốn tiểu thuyết mỏng (200 trang) đầu tay của nhà văn Anh Mark Haddon được xuất bản năm 2003. Cuốn này nhận được hai giải thưởng sách vào hàng quan trọng nhất ở Anh là giải Whitbread Book of the Year (giải này có lẽ chỉ kém giải Booker chút ít về tên tuổi) và giải Commonwealth Writers’ Prize. Cái tên cuốn sách, nghe hơi có vẻ là lạ, được lấy từ lời Sherlock Holmes trong một truyện ngắn của Arthur Conan Doyle. Và như bạn có thể đoán, cuốn tiểu thuyết này có hình thức của một cuốn tiểu thuyết trinh thám.

Nhân vật chính của “The Curius Incident” là Christopher, một cậu bé bị mắc chứng tự kỷ (autism). Cuốn tiểu thuyết được viết theo ngôi thứ nhất, là lời của cậu bé kể, với cách nhìn thế giới xung quanh theo cách nhìn của một người tự kỷ.

Nếu ai chưa biết bệnh tự kỷ là gì thì có thể google để biết thêm chi tiết, ở đây tớ chỉ nói sơ qua là bệnh tự kỷ là một chứng bệnh bẩm sinh khá phổ biến (có lần vào trang webtretho thấy ngạc nhiên về có nhiều người có con bị tự kỷ thế trong một topic về trẻ tự kỷ). Người tự kỷ hầu như không có khả năng cảm nhận được người khác nghĩ gì, cảm giác gì, và gặp rất nhiều khó khăn để có đối thoại được với người khác do họ không đoán được tư duy của người khác, không hiểu được các ngôn ngữ body language cũng như không hiểu được các khái niệm có tính trừu tượng. Đa số người tự kỷ có chỉ số thông minh thấp và gặp khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên cũng có nhiều người tự kỷ lại có thể có chỉ số thông minh cao hơn người bình thường. Và tỷ lệ những người có suy luận bằng hình ảnh và có khả năng tính toán siêu việt (ví dụ có thể nhẩm tính được 2 mũ 30 là bao nhiêu) dựa trên cách xử lý thông tin bằng hình ảnh (những người này gọi là savant) trong số người tự kỷ cũng cao hơn rất nhiều so với người bình thường. Một ví dụ của savant là nhân vật do Dustin Hoffman đóng trong phim Rainman (nhưng anh này là người tự kỷ hay không thì không chắc).

Quay lại với cuốn sách. Câu chuyện bắt đầu khi Christopher phát hiện chú chó nhà hàng xóm bị giết. Vốn hâm mộ Sherlock Holmes, cậu bé tự kỷ quyết định điều tra về cái chết của chú chó này, bất chấp sự ngăn cấm của người cha. Và trong quá trình điều tra, cậu phát hiện ra nhiều điều bất ngờ. Và những bí mật đó đưa cậu đến một chuyến phiêu lưu- một chuyến đi nếu với người bình thường thì chẳng có gì đáng kể nhưng với một người tự kỷ, không hiểu gì về thế giới bên ngoài bản thân mình thì lại đầy những bất trắc và sợ hãi.

Bằng tài năng của mình, Haddon đưa người đọc vào thế giới của Christopher, cảm nhận được những gì Christopher nghĩ. Nhiều quan sát về cách nghĩ của Christopher rất thú vị. Ví dụ Christopher không hiểu được ý nghĩa của ẩn dụ vì chỉ có thể hiểu những gì trực tiếp nhìn thấy hay suy luận bằng logic. Ví dụ khi nghe ai đó nói câu thành ngữ tiếng Anh là “trông chàng ngon nghẻ như trái táo trong mắt nàng” thì Christopher sẽ không hiểu vì không thể hình dung được trái táo trong mắt ai đó thì có ý nghĩa gì?. Christopher cũng không bao giờ nói dối, không phải vì có ý thức gì về đạo đức (với cậu bé, những khái niệm như đạo đức, thậm chí cả tình yêu là quá trừu tượng, và không thể hiểu được) mà vì nếu nói dối, cậu ta sẽ phải hình dung ra những tình huống không tồn tại và điều đó làm cậu ta sợ hãi và đau đầu. Thế nhưng Christopher lại là một savant, có khả năng toán học rất tốt, và dự định một ngày kia sẽ vào Đại học và trở thành một nhà khoa học.

Đọc “The Curious Incident”, người ta dễ liên tưởng tới hai cuốn tiểu thuyết mà vĩ đại của thế kỷ 20, đều kể chuyện bằng ngôi thứ nhất từ những người có troubled mind: Đó là Âm thanh và Cuồng nộ của Faulkner và Bắt trẻ đồng xanh của Salinger. Và có lẽ còn một cuốn thứ ba (cuốn này có lẽ gọi là truyện vừa) cũng vĩ đại không kém là Của chuột và người của Steinberg trong đó một trong hai nhân vật chính là một chàng khổng lồ nhưng có đầu óc của một đứa trẻ (ghi chú: cả ba cuốn này đều đã dịch ra tiếng Việt). Và cũng như các cuốn trên, bên cạnh tài năng kể chuyện thì điều mà “The Curious Incidend” gợi ra là những cảm xúc có tính nhân đạo, xuất phát không phải từ phía những người “bình thường” tới những người “bất bình thường” mà là từ cách nhìn của những người “bất bình thường” về thế giới chung quanh và về những người “bình thường”. Để rồi người đọc nhận ra rằng bên trong những người “bất bình thường” ấy có những vẻ đẹp trong sáng, dễ thương mà chúng ta đã (sẽ) đánh mất và đã (sẽ) hoài nghi: tình yêu trong lành mà anh chàng thần kinh trong “Âm thanh và cuồng nộ” với người chị gái; tình cảm âu yếm cảm động của Holden Caulfield trong “Bắt trẻ đồng xanh” với cô em gái nhỏ hay sự gần gũi đầy thích thú của Christopher với chó và cả với con chuột cống cậu ta nuôi. Chúng ta vẫn bực bội, khó chịu với những đứa trẻ không chịu lớn lên hay những kẻ lập dị do bẩm sinh hay do lựa chọn, không chịu trở thành những người bình thường như chúng ta. Nhưng hẳn là sẽ có đôi lúc nào đó, nhiều người sẽ thầm muốn ước gì mình chỉ như những đứa trẻ, có thể nhìn thế gian bằng một cái nhìn trong lành và đơn giản, không phải cảnh giác và hoài nghi.

Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Mark Haddon (gần đây ông này mới xuất bản cuốn thứ hai). Mark Haddon đã có thời gian làm việc nhiều năm với trẻ em mắc chứng tự kỷ. Những quan sát về người tự kỷ trong cuốn sách này được nhiều chuyên gia về tự kỷ cho là chính xác. Nhưng cũng có một số chi tiết được coi là không đúng, nhất là đối với người tự kỷ savant chẳng hạn cách mà người tự kỷ savant tính toán các con số và phép tính p
hức tạp (ví dụ tính nhẩm ngay lập tức 678 * 715 là dựa trên việc xử lý hình ảnh trong não chứ không phải bằng logic như Christopher trong truyện). Hình như các bạn Nhã Nam cũng sắp dịch cuốn này ra tiếng Việt?

Tuesday, March 06, 2007

Entry for March 06, 2007

Tham khảo thêm bài Kundera luận này


img
Joe Ciardiello

THE CURTAIN

An Essay in Seven Parts.

By Milan Kundera. Translated by Linda Asher.

168 pp. HarperCollins Publishers. $22.95.

Reading With Kundera

(NY Times Review)


Published: March 4, 2007

Milan Kundera (who writes these days in French) is perhaps the best, certainly the best-known, Czech fiction writer since Kafka (who was arguably more German than Czech anyway). This is his third book-length meditation on the novel, all three translated with precision and grace by Linda Asher. And while there is a fair amount of overlap and repetition in “The Curtain,” “The Art of the Novel” (1988) and “Testaments Betrayed” (1995), it’s due more to the consistency of Kundera’s approach to reading and writing fiction and the persistence of certain literary preferences and prejudices — his literary values — than to an inability to move on. It’s also due to his belief that reading and writing novels, from Cervantes to Rushdie, is a way of thinking that is essential for a coherent moral understanding of human nature and circumstance.

“The Curtain” is constructed much the same as its predecessors: a loose sequence of separately titled, more or less topically focused reflections that are each in turn broken into smaller segments with titles like “The Multiple Meanings of the Word ‘History’ ” and “Maximum Diversity in Minimum Space.” There is no formal argument to it, no narrative or plot, no overt organizing principle tying the segments and sequences together.

In Kundera’s hands, however, the bagginess of the form is appropriate. The book’s aphoristic, often flatly declarative style (Kundera has strong opinions on everything, from E. M. Cioran’s youthful flirtation with fascism to the difference between foolishness and stupidity) allows for an elegant, personalized integration of anecdote, analysis, scholarship, memory and speculation. This is not strictly or even loosely speaking literary criticism; nor on the other hand is it merely a meander through the mind of a philosophically inclined novelist. Kundera himself tells us how to read his book: “A novelist talking about the art of the novel is not a professor giving a discourse from his podium. Imagine him rather as a painter welcoming you into his studio, where you are surrounded by his canvases staring at you from where they lean against the walls. He will talk about himself, but even more about other people, about novels of theirs that he loves and that have a secret presence in his own work. According to his criteria of values, he will again trace out for you the whole past of the novel’s history, and in so doing will give you some sense of his own poetics of the novel.”

Not surprisingly, then, reading “The Curtain” is like spending a long desultory afternoon into the evening sitting over coffee and cigarettes in a pleasant cafe listening to Milan Kundera hold forth on history, literature, music, politics, large countries versus small, East versus West, the lyric versus the novelistic, Paris versus Prague and so on into the night. One has the impression that Kundera, at least on the page, is a fabulous talker and not an especially good listener. But he is 78 now, and he has lived through the military occupation and liberation of his country twice and has endured more than three decades of exile; he has written at least three of the most admired novels of our time, “The Joke,” “The Book of Laughter and Forgetting” and “The Unbearable Lightness of Being,” plus another half-dozen books of fiction. Kundera’s opinions, reflections, memories and desires are well worth listening to.

Besides, he is one of the most erudite novelists on the planet. Not since Henry James, perhaps, has a fiction writer examined the process of writing with such insight, authority and range of reference and allusion. For instance, while analyzing Tolstoy’s description of Anna Karenina’s suicide, he notes in a tossed-off, parenthetical aside: “Stendhal likes to cut off the sound in the middle of a scene; we stop hearing dialogue and start to follow a character’s secret thinking,” which leads him to speak of Anna’s last thoughts: “Here Tolstoy is anticipating what Joyce will do 50 years later, far more systematically, in ‘Ulysses’ — what will be called ‘interior monologue’ or ‘stream of consciousness.’ ” Which in turn leads him to observe that “with his interior monologue, Tolstoy examines not, as Joyce will do later, an ordinary, banal day, but instead the decisive moments of his heroine’s life. And that is much harder, for the more dramatic, unusual, grave a situation is, the more the person describing it tends to minimize its concrete qualities. ... Tolstoy’s examination of the prose of a suicide is therefore a great achievement, a ‘discovery’ that has no parallel in the history of the novel and never will have.” End of parenthesis.

In Kundera’s somewhat Eurocentric view, the novel is uniquely able to express a highly ironic “antimodern modernism,” a mode of disillusioned thinking that was fathered by Cervantes, who with Rabelais, Fielding, Sterne and Diderot established a lineage that is “suspicious of tragedy: of its cult of grandeur; of its theatrical origins; of its blindness to the prose of life.” Thus he finds more significant traces of Cervantes’s DNA in Fielding than in Balzac, and in Tolstoy more than Dostoyevsky. He
finds it mainly in the works of four 20th-century Central European writers whom he calls his “Pleiades” — Kafka, Musil, Broch and Gombrowicz — and more recently in the works of Grass, Fuentes, García Márquez, Goytisolo, Chamoiseau and Rushdie, as if there were among contemporary novelists a deliberate return to the source.

“The novel alone,” he says, “could reveal the immense, mysterious power of the pointless,” in opposition to the “pre-interpretation” of reality. The novel, in Kundera’s view, is not a genre; it’s a way of busting through the myriad lies regarding human nature and our collective and individual fates, lies that serve the purposes of bureaucracy and greed and the joyless quest for power. The “pre-interpretation” of reality is the curtain referred to by the book’s title, “a magic curtain, woven of legends ... already made-up, masked, reinterpreted. ... It is by tearing through the curtain of pre-interpretation that Cervantes set the new art going; his destructive act echoes and extends to every novel worthy of the name; it is the identifying sign of the art of the novel.” (The italics are Kundera’s. He is in fact rather fond of italics, giving to his words a sureness they might otherwise lack.)

He speaks approvingly but only in passing of Faulkner and Hemingway, and not at all of Twain, who surely ought to reside among his Pleiades, or the Melville who wrote “The Confidence-Man,” or any other of the many American writers working in the grand tradition of what he calls “the privileged sphere of analysis, lucidity, irony.” One could make a long list of Americans qualified to reside there: Hawthorne, James, Sinclair Lewis, Nathanael West, on to near-contemporaries like Donald Barthelme, Joseph Heller and Robert Coover, who surely were influenced by Kundera’s Middle European stars, Kafka, Musil, Broch, but who chose to drawl it out in American English, mixing syncopation and burlesque with “analysis, lucidity, irony.” If I have any quarrel with Kundera’s description of the history of the novel it’s that he’s not inclusive enough. He does not discuss a single female novelist, even in passing. It’s as if no Western woman has ever tried writing a serious novel in 400 years. And, in his appreciation of non-European novelists like Fuentes, García Márquez and Chamoiseau, he colonizes them, as if culturally they gazed longingly toward their European mother- and fatherlands instead of their homelands. But then, he’s not writing literary criticism; he’s writing the secret history of the novels of Milan Kundera and teaching us how to read them.