Tuesday, August 07, 2007

Why not the worst

Đọc bài của bạn Trang, bên cạnh phản ứng có thể hiểu được của bạn khi tác phẩm bị chê (phản ứng mà giờ hay được gọi bằng cái câu “Ai cho mày chê con tao xấu” của Phan Thị Vàng Anh) thì tôi có một số nhận xét sau:

Thứ nhất về cách tôi chê tác phẩm của Dương Thụy và phỏng đoán là có thể có những ẩn ứng về tình dục trong tác phẩm là một điều bình thường. Các nhà phê bình vẫn có những giả thuyết như ảnh hưởng của chứng bất lực, sợ đàn bà của Kafka lên các tác phẩm của ông, hay ám ảnh về tình dục và bạo dâm từ đời tư bản thân trong các tác phẩm của Elfried Jelinex…Đó là nhận xét của một số nhà phê bình chuyên nghiệp đối với các tác phẩm của các nhà văn lớn. Ở đây, tôi cũng chỉ đặt một vấn đề có thể có các mặc cảm bạo/khổ dâm trong các tác phẩm của Dương Thụy với tư cách một nhà văn, và hoàn toàn không nói gì về đời tư của chị Thụy mà cá nhân tôi không hề quen biết. Cũng xin nói thêm ở đây là việc tồn tại các liên tưởng khổ/bạo dâm trong tác phẩm hoàn toàn là điều bình thường và không có gì xấu. Nhà phê bình nghệ thuật Susan Sontag có câu thế này: Khiêu dâm chẳng có gì xấu cả. Xấu xa là tả về nó một cách tồi tệ. Sự vụng về, ngớ ngẩn của Dương Thụy trong việc mô tả cảm xúc và cả ức ẩn tình dục mới là điều đáng quan tâm. Ở Mỹ hàng năm người ta vẫn có giải thưởng trao cho các cảnh mô tả sex tồi tệ, vô duyên nhất trong các tác phẩm văn học và điện ảnh cũng vì thế.

Tuy nhiên, nếu điều này thực sự làm phiền lòng nhà văn Dương Thụy và những người yêu mến chị thì tôi cũng xin lỗi.

Nội dung thứ hai quan trọng hơn. Bạn Trang viết “Tại sao tự dưng anh lại bỏ những cuốn sách đầy tính học thuật sâu sắc để đọc truyện giải trí làm gì? Mà sao anh không chọn sách giải trí cho nam giới lại chọn sách giải trí cho phụ nữ, lại còn phụ nữ Việt Nam (!), để rồi lại bực mình vì chúng mà tuôn xa xả trên blog như thế? Tôi chịu, không thể trả lời được, chỉ biết bắt chước người xưa tự bảo rằng mình không phải là người ta, sao biết cái bực của người ta”. Ở đây bạn Trang có một giả định ngầm hiểu là sách viết cho phụ nữ thì chỉ có phụ nữ mới nên đọc và nên nhận xét hay phê bình về nó. Nói theo kiểu Huệ Tử thì đàn ông không phải là phụ nữ nên không thể đánh giá chính xác tác phẩm dành cho phụ nữ. Giả định đó không hợp lý vì một tác phẩm được viết ra không có quy định ai là người được đọc hay nên đọc, và mỗi đối tượng đọc sẽ có cách hiểu và đánh giá khác nhau theo cảm tính và kinh nghiệm của bản thân. Lấy ví dụ cuốn Harry Potter vốn là sách dành cho trẻ con nhưng số người lớn đọc nó còn nhiều hơn số trẻ con (theo một bài báo link từ trang Arts & Letters Daily- Và tất nhiên các bài điểm sách trên báo về Harry Potter cũng không có bài nào do các cậu bé 15 tuổi viết cả). Các tiểu thuyết vốn được viết nhằm vào đối tượng bạn đọc là phụ nữ như của Jane Austen ngày nay trở thành các tiểu thuyết kinh điển được giảng dạy trong các trường Đại học và được nhiều chuyên gia có râu và không râu, mặc bra và không mặc bra phê bình, diễn giải. Thế nên ý kiến sách của gái là để gái đọc, giai có lén đọc thì không nên nói gì là hòan toàn không hợp lý. Lập luận của bạn Trang do đó thể hiện một sự thiếu hụt về logic.

Hơn nữa, những nhận xét của tôi là những nhận xét của một người đọc cụ thể, là đàn ông, 30 tuổi, phản ánh đánh giá của riêng tôi và hoàn toàn không quan tâm tới việc người đọc nhận xét đó phải tin vào nó. Một người đọc có thể cảm động và thích thú với “Oxford thương yêu”, có sao đâu, tôi không nghĩ mình có trách nhiệm phải thuyết phục anh ta/cô ta/ cháu bé là cuốn sách đó dở thế nào. Đơn giản, tôi chỉ nêu nhận xét của mình.

Còn những câu như “Tại sao tự dưng anh lại bỏ những cuốn sách đầy tính học thuật sâu sắc để đọc truyện giải trí làm gì?” thì quả thực rất buồn cười, bản thân tôi vẫn đang tự hỏi câu đó từ 15 năm nay mà vẫn chưa tìm ra câu trả lời (cũng không mong được ai trả lời giúp)
.

Nội dung thứ ba, có thể quan trọng hơn cả, là cách phản ứng trước một tác phẩm mà người đọc thấy là không hay trong thế giới Internet ngày nay. Theo bạn Trang, cách ứng xử hợp lý nhất khi thấy tác phẩm không hay (theo chủ quan) là không quan tâm tới nó, quẳng nó sang một bên chứ không cố đọc hết nó, rồi nếu có mà đọc thì đọc xong cũng cấm kêu, “xê ra cho người ta làm văn sĩ”. Phản ứng này của bạn Trang theo tôi là rất chủ quan và có tính áp đặt. Mỗi người đều có cách ứng xử riêng của mình khi đọc một tác phẩm hay dở (cũng như khi chọn một cuốn sách hay dở). Nói thực, đối với tôi, đọc một cuốn sách rất dở nhiều khi lại là một thú vui. Thú vui ấy lại càng thích thú trong trường hợp tác giả cuốn sách dở lại cứ nghĩ là mình viết hay. Trường hợp này cũng xảy ra trong điện ảnh. Các phim của đạo diễn Ed Wood được nhiều người xem rất hâm mộ vì nó quá dở nhưng đạo diễn thì luôn tin tưởng là phim của mình rất hay, và xem phim của ông, người ta sẽ được cười sảng khoái vì cái sự dở một cách hồn nhiên của nó.

Vì lý do tại sao người ta đọc sách dở thì có thể xem bài tiểu luận này “Why not the worst” trên tờ NY Times. Có đoạn như sau “Bad books have an important place in our lives, because they keep the brain active. We spend so much time wondering what incredibly dumb thing the author will say a few pages down the road. One caveat: As with bad movies, a book that is merely bad but not exquisitely bad is a waste of time, while a genuinely terrible book is a sheer delight.”.

Đọc sách dở cũng là một sự thích thú. Và việc nhận xét về nó thì vừa là một sự thích thú vừa có một ý nghĩa tích cực. Nếu không lầm thì bạn Trang cũng hay tham gia một diễn đàn (mở) mà trong đó có phương châm “making fun of stupidity”. Và tôi nghĩ rằng ắt hẳn bạn cũng đã từng có nhiều lúc cũng “making fun of stupidity”. So, it happened and happens all t
he time!

Quan trọng hơn, một tác phẩm chính thức ra đời thì công chúng có toàn quyền nhận xét về nó theo ý họ. Bạn lo ngại những nhận xét “sắc cạnh” có thể giết chết tác phẩm, hay cảm hứng của tác giả (còn cái ý bạn nêu ra “mạng sống của không chỉ một con gà” thì tôi hơi sợ nên xin không được đưa vào). Nhưng cái đáng quan tâm hơn là các nhận xét đó có chính xác không hay là có sai sót, và tác phẩm đó có thực sự hay, hấp dẫn hay dở theo chủ kiến của người viết. Những lời phê bình khen ngợi hay vuốt đuôi thì có quá nhiều rồi, và cũng không ít những lời chê ngớ ngẩn, vơ đũa cả nắm đối với các tác phẩm nổi nổi (hai loại này tồn tại trên cả báo chí lẫn trên các blog). Và tất nhiên cũng không thiếu những lời khen nửa vời, chê nhỏ nhẹ “thiện chí”. Nếu một nhà văn sợ các lời chê “sắc cạnh” đến thế thì có nên xuất bản tác phẩm của mình không vì một khi tác phẩm đó đã được xuất bản thì nó không còn là sản phẩm của riêng nhà văn đó nữa rồi. Với lại, những người phê bình (ở đây không chỉ tôi- tôi chỉ là người đọc sách) khi viết phê bình thì đối tượng họ nhằm vào không phải là các nhà văn, mà là những độc giả đã, đang, hay có thể đọc cuốn đó. Và vì thế trách nhiệm của một người phê bình không chỉ là giới thiệu những cuốn sách hay mà còn là trình bày quan điểm của họ với các cuốn sách mà họ coi là dở, nhưng lại đang làm mưa làm gió trên thị trường (hai ví dụ: Phạm Lưu Vũ từng có bài phê bình Totem Sói và phê bình cả việc không có nhà phê bình nào phê bình cuốn sách đó; nhà phê bình có lẽ là nổi tiếng nhất thế giới hiện nay là Harold Bloom từng phê phán hiện tượng Harry Potter một cách rất nặng nề cho dù sở trường của ông này là Shakespeare!).

Điểm cuối cùng là về tính chất của blog. Blog là một trang web cá nhân và người viết blog thể hiện quan điểm cá nhân của mình với đối tượng người đọc có thể là bất kỳ ai, một nhóm nhỏ hay chỉ riêng mình. Và tất nhiên người đó chịu trách nhiệm với những gì mình viết trên blog của mình. Như thế hẳn là đã đủ cho tính trách nhiệm cho việc khen/chê rồi. Nếu bạn đọc trên blog tôi cảm thấy những lời tôi nói là thiếu cơ sở, hàm hồ, vô tình hay thậm chí là “độc ác” thì đó là quan điểm của các bạn. Tôi không thể có ý kiến gì.

Entry này bắt nguồn từ Thư hàng tuần của Trần Thu Trang nhưng cũng không hẳn chỉ để trả lời bài trên blog và website của Trần Thu Trang. Rộng hơn nó thể hiện quan điểm của tôi về cách ứng xử xung quanh việc viết văn, đọc sách và đọc/viết blog.

Cuối cùng cũng mong rằng đây sẽ là trao đổi và bày tỏ ý kiến cá nhân chứ không phải là “khẩu chiến” hay “bút chiến” gì.

PS: Với các bạn comment phê phán tôi trên blog của bạn Trang, tôi cũng mong sẽ nhận được các ý kiến phê phán thực sự chứ không phải mấy câu vuốt đuôi kiểu: Ph.D mà hóa ra chỉ nghĩ được thế thôi…(nghe buồn cười lắm!).

Entry for August 07, 2007

1. (từ comment trên blog Moony)

Độc thân chỉ là sự ám ảnh của mơ ước về một đời sống tự do khi nhận ra rằng mình không thể thực sự có tự do được. Tóm lại là một giấc mơ trẻ con của những người không còn là trẻ con, thay cho giấc mơ hoàng tử- công chúa thời trẻ con sẽ là giấc mơ độc thân như là một thứ compromise với chính mơ ước của mình khi nhận ra là chẳng có hoàng tử công chúa nào như trong truyện cổ tích cả còn tự do cá nhân rút cục chỉ là empty word với bao nhiêu trách nhiệm của cuộc đời khi đã sinh ra là con người.

Với phụ nữ, sau khi kết thúc giấc mơ độc thân sẽ lại quay về chủ đề muôn thủa của các chick-lit, romance fiction/movies: chọn chồng. Triết gia vĩ đại thế kỷ 19 Jane Austen (tác giả yêu thích nhất của phụ nữ Anh trong một survey gần đây) đã phát biểu, đại ý là công việc lớn nhất trong cuộc đời phụ nữ là làm thế nào kiếm được một tấm chồng vừa giàu lại vừa tốt- một chân lý mà đến nay vẫn không thay đổi.

Đàn ông (ít nhất đàn ông Việt Nam) sợ và khó chịu với các phụ nữ độc thân vì họ coi là họ cao hơn phụ nữ một bậc và phụ nữ không thể (hay không được) sống thiếu họ. Độc thân như một lựa chọn được coi là một thứ quyền dành riêng cho đàn ông. Đó là di sản của một chế độ phụ quyền dựa trên giả định về sự tồn tại của xã hội trên cơ sở gia đình truyền thống mà đàn ông đóng vai trò trụ cột.

2.

Đôi khi tôi cảm giác tình yêu của phụ nữ với những đứa trẻ của họ là một thứ obsession (ám ảnh?), một nơi trú ẩn họ lánh vào để lãng quên cuộc sống thực với những thất vọng, lãng quên mơ ước về tình yêu hay để tránh phải yêu chồng hay thất vọng về chồng hoặc về chính cuộc đời của mình.

3.

Trên VNN có một list mà cậu nào đó lập về 10 cuốn sách yêu thích. Thay vì chọn các cuốn sách yêu thích, tớ thử lập cái list những cuốn sách dạng fiction từng có nhiều ảnh hưởng tới tớ:

Iliad (Homer)

Tam Quốc Diễn Nghĩa (La Quán Trung)

Sử ký Tư Mã Thiên (Tư Mã Thiên)

Đông Chu Liệt Quốc (Phùng Mộng Long)

Tiếu Ngạo Giang Hồ (Kim Dung)

Hamlet (Shakespeare)

Martin Eden (Jack London)

Chuông nguyện hồn ai (Hemingway)

1984 (Orwell)

Vụ án (Kafka)

Đời nhẹ khôn kham (Kundera)

Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)

Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Tạm như thế đã.


4. Nhanh thật. Nhận xét (mẹ chồng) của tớ về chick-lit đã được lên Thư hàng tuần của Trần Thu Trang bàn về việc có nên chê một quyển sách khi bạn thấy nó dở. Cái chủ đề đó gợi ra một số ý khá hay (về phía người đọc, người viết, người viết blog và người comment blog). Lúc nào có thể viết gì đó về ý đấy.


.

Monday, August 06, 2007

Entry for August 06, 2007

Thôi hết phản động rồi, lại sến tiếp nào. Hè sắp hết rồi. Lại cũng sắp tới mùa dị ứng của mình. :(

Bài này lời hay thật.


Có đôi khi

Lã Văn Cường


Ôi có đôi khi thèm như gió đi hoang
Sống kiếp lang thang, dạo chơi khắp núi rừng
Rũ lá rơi vàng, về thăm biển mênh mông
Vượt ngọn sóng dâng tràn
Ta là gió trên ngàn

Ôi phải chi ta là con suối sông kia
Sống kiếp giang hồ, dạo chơi hết bến bờ
Để có tiếng chim và em mãi ngây thơ
Ta đâu biết mong chờ
Ta thôi hết vật vờ

Ôi có đôi khi thèm như lúc tuổi thơ
Sáng sáng tung tăng, đùa vui hát vang lừng
Chẳng biết suy tư đời kia vấn vương gì
Rồi chiều tới mơ màng
Đợi chờ sáng tưng bừng

Ôi có đôi khi nằm nghe những cơn mưa
Muốn sống cô đơn cùng chăn ấm trong phòng
Chỉ thấy mái hiên và ta đứng co ro
Buồn nhả khói lên trời
Lòng nhịp rối tơi bời

Ôi có đôi khi thèm như những con chim
Cứ hót líu lo rồi tung cánh lên trời
Đến đến đảo hoang, tìm nơi vắng bóng người
Rồi cười nói một mình
Và lặng khóc một mình


yfla.wrap("This multimedia content requires Flash version 9 and above.", "Upgrade Now.", "http:\/\/www.adobe.com\/shockwave\/download\/download.cgi?P1_Prod_Version=ShockwaveFlash", "
Get this widget | Share | Track details
Get this widget | Share | Track details ");To view this multimedia content, please enable Javascript.

Báo chí

Tin 1: Nhiều phóng viên Việt Nam bị thẩm vấn


Gần hai tháng qua, nhiều phóng viên có tiếng của các tờ báo có lượng phát hành lớn ở Việt Nam đã bị Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) gọi lên thẩm vấn.

Họ được coi là liên quan tới việc đưa tin về các vụ án tham nhũng tại Việt Nam trong thời gian qua.

Các phóng viên liên quan cho biết họ không được thông báo cụ thể mà chỉ được biết một cách chung chung rằng cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án làm lộ bí mật nhà nước và lợi dụng quyền tự do dân chủ liên quan tới các bài báo viết về vụ PMU 18 và vụ siêu lừa Nguyễn Đức Chi.

Cơ quan điều tra cũng không nói là đã xin lệnh phê chuẩn việc gọi hỏi phóng viên của Viện Kiểm sát hay chưa.


Tin 2: Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp: Tiếp cận cái mới để đưa đất nước đi lên

“- Công tác quản lý báo chí ở Bộ Thông tin và Truyền thông có gì mới, thưa bộ trưởng?

Về mặt quản lý báo chí, chúng tôi sẽ tập trung làm 5 vấn đề lớn. Thứ nhất, sẽ sửa đổi Luật Báo chí để việc quản lý được tốt hơn. Quy hoạch lại báo chí, hình thành những tập đoàn báo chí mạnh, với nhiều loại hình báo chí chứ không phải rải ra nhiều loại hình mà không có đầu mối chung. Đào tạo lại công tác cán bộ, từ tổng biên tập đến phóng viên. Thứ hai là hoàn chỉnh các quy chế quản lý, để mỗi người trên mỗi cương vị đều quản lý đúng trách nhiệm của mình. Ví dụ quy chế trách nhiệm của tổng biên tập, vì nếu không nêu cao trách nhiệm quản lý của tổng biên tập, thì Cục báo chí có đông bao nhiêu cũng không làm được. Tổng biên tập là người của Bộ Thông tin và Truyền thông sau này cắm ở từng tờ báo.”

Cũng ông Lê Doãn Hợp:

"Lâu nay báo chí bị quản lý theo mệnh lệnh, bị một số điều hành làm mất tự do. Báo chí sẽ có tự do nếu đi đúng lề đường bên phải. Tôi sẽ cố gắng để cho báo chí có một lề đường rộng, thông thoáng hơn", Tân Bộ trưởng Thông tin Truyền thông Lê Doãn Hợp trao đổi với báo giới.”

Thực ra tranh luận về giữa quyền tự do báo chí và bí mật của nhà nước là một vấn đề không chỉ ở Việt Nam ( Nhưng trong khái niệm bí mật Nhà nước thì cũng còn quá nhiều chuyện phải bàn, bởi vì chẳng có ai ở Việt Nam kể cả công an hay Bộ trưởng Bộ Thông tin là biết được chính xác cái gì là bí mật nhà nước, cái gì không phải?). Ví dụ ở Mỹ gần đây có vụ văn phòng của Phó TT Cheney ngứa mắt với một ông chuyên gia cứ bô bô trên báo là ngày xưa không tìm thấy việc Iraq mua uranium ở Nigeria thế là phím cho báo chí là vợ ông này là nhân viên tình báo ngầm của CIA. Việc này là bất hợp pháp nên tòa án xử đòi nhà báo phải cung cấp tên người tiết lộ bí mật đó. Có hai nhà báo chịu cung cấp thông tin cho tòa án còn người thứ ba thì nhận ngồi tù thay vì tiết lộ nguồn tin.

So sánh việc này với việc xảy ra ở Việt Nam sẽ thấy khác nhau thế nào.

Thứ nhất, trong vụ trên là nhà báo không có tội gì khi viết bài tiết lộ thông tin trên (nếu nhà báo mà bị có tội thì đã chả có các vụ như vụ Watergate). Người có tội là người cung cấp tin cho nhà báo. Ở VIệt Nam, các nhà báo bị công an gọi lên thẩm vấn, thậm chí có thể bị truy tố (trường hợp Lan Anh báo Tuổi trẻ khi xưa), nếu không thì cũng bị thiệt hại trăm bề.

Thứ hai, chỉ tòa án mới có quyền yêu cầu nhà báo phải trả lời các câu hỏi ai là người cung cấp tin, chứ không phải công an. Ở Việt Nam, cả Bộ Thông tin, công an vào cuộc mà chẳng thấy nói tới tòa án ở đâu? Và tất nhiên trong vụ việc ở Mỹ kia, không có chuyện các nhà báo phải viết bản kiểm điểm. Lại càng không có chuyện một tờ báo bất kỳ nào cũng bắt buộc phải có Tổng Biên tập là người do Bộ cắm về các tòa báo (tức là thỉnh thoảng chắc chắn ông TBT sẽ phải tới vận động dạ thưa, ơn anh, vợ con em vẫn khỏe ạ, có chút quà cháu nó đi Trung Quốc về biếu anh ạ.., dạ, thằng đó ngựa non háu đá nên không biết, mai em sẽ tổ chức kiểm điểm nó ạ, anh đừng lo…).

Những sự việc phản dân chủ và công khai đi ngược lại tự do báo chí như thế mà một số người lại cảm thấy đương nhiên và đáng mừng (?). Tất nhiên, trong việc này có thể hiểu là họ quan tâm tới khía cạnh thực tế của vấn đề tức là việc Bộ Văn hóa đặt ra một cái khung rõ ràng hơn cho hoạt động báo chí như lời ông Hợp nói “Tôi sẽ cố gắng để cho báo chí có một lề đường rộng, thông thoáng hơn". Nhưng hiện còn chưa biết cái khung đó có rộng rãi hay không chỉ thấy là những hành động như trên thể hiện công khai việc đi ngược lại quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. Chả nhẽ lại tiếp tục thở dài mà than “Cái nước mình nó thế” à (trong khi cả trăm nước khác thì nó không thế).

Nào các nhà báo, hãy cùng nhắm mắt mà đi về bên phải, đằng trước dù sao đã có tấm biển chỉ đường rồi, cứ bám thật sát, thật sát lề bên phải mà đi là khỏi lo ngã hay chẳng may bị xe đâm phải.

Còn cứ loạng quạng ngó nghiêng sang phía bên kia đường là chẳng may dễ bị xe cán lắm.

Entry for August 06, 2007

Mùa xuân, em

Văn Cao

II

mùa xuân thả trên bàn tay em
có lẽ cuộc đời chúng ta còn đi
dài như mùa xuân đã đến

ta đợi nhau
như chờ mùa xuân

hình như
chỉ còn kỷ niệm
giữa chúng ta
không còn gì ở anh
còn có gì ở em?.

bất ngờ
một con chim bay qua cửa sổ
tự nhiên
ánh sáng đi

em của anh - nói gì được bây giờ
nói gì được bây giờ?

Sunday, August 05, 2007

Vietnamese Spies

Tớ thử tổng hợp về các nhà tình báo có tiếng của Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam:

1. Phạm Ngọc Thảo. Nhà tình báo chiến lược nổi tiếng. Dân Công giáo địa chủ Nam Bộ nhưng gia đình đa phần theo Cách mạng (anh trai ông Thảo từng làm Phó Chủ tịch UB Hành chính kháng chiến Nam bộ). Từng làm Tỉnh trưởng Bến Tre, đại tá quân đội VNCH, truy phong đại tá quân đội nhân dân Việt Nam. Phạm Ngọc Thảo là trường hợp điệp viên cao cấp, có tính độc lập rất cao trong công việc. Một ví dụ là khi bị truy lùng, ông được đề nghị ra khu nhưng vẫn tự quyết định ở lại để mưu việc lớn. Bản thân ông đã tham gia ít nhất là ba âm mưu đảo chính: cùng Trần Kim Tuyến âm mưu đảo chính Ngô Đình Diệm (nhưng sau đó Tuyến bị điều đi Đài Loan), cùng tham gia cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963. Cùng tướng Lâm Văn Phát làm đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh (nhưng rất tiếc là đuổi được Nguyễn Khánh thì Nguyễn Cao Kỳ lại lên cầm quyền). Footnote là chị gái của Lâm Văn Phát chính là bà Lâm Thị Phấn, điệp viên Việt Minh và nhân vật nguyên mẫu phim Người đẹp Tây Đô do Việt Trinh đóng. Ông bị bắt và ám sát trong tay lực lượng An ninh quân đội lúc này do Nguyễn Ngọc Loan nắm. Cho tới khi chết, ông vẫn không bị nghi là điệp viên Cộng sản dù tất cả mọi người đều biết tới lý lịch theo Kháng chiến của ông (từng làm tới Trưởng ban Mật vụ Nam bộ, Tiểu đoàn trưởng). Nhưng chắc chắn một điều là ông bị khá nhiều thế lực tướng lĩnh sợ và ghét, bằng chứng là cái chết của ông (có không nhiều tướng lĩnh hay sĩ quan cao cấp bị thanh toán trong khoảng thời gian sau đảo chính Diệm. Trong khi đảo chính thì có một Đô đốc và vài sỹ quan cấp tá bị giết). Hình như không sĩ quan cấp tướng nào bị ám sát cả (có một viên tướng tên là Nguyễn Văn Hiếu bị ám sát sau này thời Thiệu nhưng vì lý do liên quan tới kinh tế)
Phạm Ngọc Thảo được coi là một người theo đường lối Quốc gia. Cho tới nay, ngay cả nhiều người ở hải ngoại vẫn coi ông là người theo đường lối Quốc gia và không phải là Cộng sản. Vợ con ông vẫn sống bình an ở hải ngoại. Trong cuốn hồi ký của Trương Như Tảng (cựu Thứ trưởng Tư pháp Chính phủ Lâm thời Miền Nam Việt Nam), Phạm Ngọc Thảo được mô tả như một nhân vật bí ẩn, một người theo chủ nghĩa dân tộc và sẵn sàng làm tất cả để ngăn cản quân Mỹ vào Việt Nam.

Theo tớ, Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo vĩ đại nhất của Việt Nam. Sự vĩ đại của ông không chỉ ở những gì ông làm được (và định làm mà không thành) mà còn ở sự hy sinh, cái chết đầy bi kịch của ông. Khác với các nhà tình báo khác, ông hoạt động đơn tuyến, một mình, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ cấp cao nhất (Lê Duẩn) chứ không phải từ các nhân vật chỉ huy tình báo trong Nam như ông Mười Hương (Trần Quốc Hương).

Phạm Ngọc Thảo là nhân vật nguyên mẫu cho tập trường kỳ tiểu thuyết Ván bài lật ngửa của Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng), tiểu thuyết X30 phá lưới và bộ phim Ván bài lật ngửa.


2. Phạm Xuân Ẩn: Thiếu tướng tình báo QĐNDVN.

Nếu ông Thảo là nhà tình báo vĩ đại nhất của miền Bắc thì ông Ẩn là nhà tình báo hoàn hảo nhất. Ông là ký giả của hãng tin Reuteu và tờ Times. Ông chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Mười Hương và Mai Chí Thọ. Nhiều người xem ông là một tình báo viên hoàn hảo trên mọi phương diện. Ông hoàn thành mọi công việc một cách xuất sắc, cung cấp rất nhiều thông tin giá trị, và giữ vỏ bọc của mình cho tới phút chót. Ông được phương Tây chú ý nhiều một phần cũng vì ông có quan hệ rất rộng với giới báo chí phương Tây. Ông còn là người bí ẩn bởi ông có nhiều mối quan hệ với tình báo Mỹ (được Lansdale bảo trợ đi học ở Mỹ), tình báo Sài Gòn (bạn của Trần Kim Tuyến và sau này cứu Trần Kim Tuyến chạy thoát khỏi miền Nam). Chính vì thế sau này ông cũng bị nghi kỵ trong chính quyền mới về khả năng là gián điệp kép cũng như cả về thái độ ưa thích nước Mỹ và chỉ trích nhiều việc trong chính quyền một cách công khai của ông. Sau 1975, ông không được phép ra nước ngoài.

Có một số cuốn sách cả tiếng Việt và tiếng Anh về ông. Tiếng Anh có cuốn A perfect spy mới xuất bản gần đây về con người Phạm Xuân Ẩn. Trong các cuốn sách lịch sử về chiến tranh Việt Nam cũng hay nhắc tới tên ông.

3. Vũ Ngọc Nhạ: Thiếu tướng tình báo. Ông được biết tới nhiều hơn cả nhờ cuốn tiểu thuyết Ông Cố Vấn của Hữu Mai- một cuốn tiểu thuyết tình báo khá thú vị (mặc dù chắc bịa cũng không ít, hy vọng là bịa các chi tiết nhỏ thôi). Ông cũng xuất thân Công giáo, và thân cận với cha Hoàng Quỳnh và (có thể) giám mục Lê Hữu Từ. Ông làm cố vấn không chính thức cho hai tổng thống Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, chủ yếu trên phương diện quan hệ với giáo dân gốc Bắc. Ông còn là người chỉ huy cụm gián điệp nổi tiếng A22 trong đó có Huỳnh Văn Trọng làm Phụ tá Tổng thống Thiệu (từng làm Tổng trưởng chính phủ Bảo Đại) và một nhà tình báo nổi danh khác là Lê Hữu Thúy làm việc trong cơ quan tình báo Sài Gòn. Tổ này chắc có thể so sánh với tổ tình báo Cambridge ở Anh của Kim Philby. Nhưng tổ này cũng bị vỡ và ông Nhã cùng nhiều đồng nghiệp phải đi Côn Đảo một thời gian. Sau năm 1975, ông cũng bị thất sủng một thời gian dài.Sách về ông: có cuốn Ông Cố Vấn của Hữu Mai. Ngoài ra còn một bộ phim (rất tệ) dựng theo cuốn này.

4. Lê Hữu Thúy: Thiếu tướng tình báo. Ông là nguyên mẫu của cuốn tiểu thuy
ết Điệp viên giữa sa mạc lửa- một cuốn tiểu thuyết tình báo hay và có vẻ khá chân thực. Ông từng làm cố vấn cho Năm Lửa (Trần Văn Soái), chỉ huy quân Hòa Hảo và có vai trò trong việc xúi quân Bình Xuyên- Hòa Hảo đánh nhau với quân của Ngô Đình Diệm. Sau khi Năm Lửa về hàng, ông làm Trưởng phòng An ninh trong Nha An ninh Quân đội của Đỗ Mậu và tổ chức cụm Tình báo Chiến lược A25 (thường xuyên phối hợp họat động với cụm A22 của Vũ Ngọc Nhạ). Sau khi bị Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung của Dương Trung Hiếu (là tổ chức phản gián do Ngô Đình Cẩn thành lập) phát giác, ông bị bắt nhưng rồi được thả ra và làm việc ở Bộ Chiêu Hồi với chức danh Ủy viên Phụ tá Bộ trưởng.

Có thông tin cho rằng bốn ông Thảo, Ẩn, Nhạ, Thúy là bốn nhân viên tình báo kỳ cựu với nhiều công tích nhất của miền Bắc.

5. Đặng Trần Đức: Thiếu tướng tình báo. Từng làm việc trong cơ quan tình báo Sài Gòn.Đã có một loạt bài trên báo Thanh Niên về ông trong dịp ông qua đời năm 2004.

6. Nguyễn Đình Ngọc: Thiếu tướng. Ông là giáo sư Toán đại học Sài Gòn. Có bằng Tiến sĩ ở Pháp sau đó có giảng dạy một thời gian bên Pháp trước khi về Sài Gòn. Công việc của ông ở Sài Gòn trước 75 có vẻ khá bí ẩn và rất ít thông tin công khai về các công việc này của ông. Ông cũng mất năm ngoái. Ông cũng có nhiều đóng góp cho khoa học (từng làm Phó trưởng ban chỉ đạo CNTT ở Việt Nam). Ông có chân trong Hội đồng quản trị của Trường Đại học Thăng Long trước khi qua đời. Như những người từng có dịp tiếp xúc với ông nhận xét thì ông có lối sống rất đặc biệt, khắc kỷ, và giản dị tới mức khó tin. Một ngày chỉ ăn một gói mỳ và đi lại đều bằng xe đạp, mặc đồ như từ 30 năm trước. Ông cũng nổi tiếng về tài xem tử vi – có người bảo ông là người xem tử vi giỏi nhất Việt Nam và trước kia thường xem cho các tướng lĩnh, lãnh tụ VNCH.

Các tình báo viên của miền Nam thì có quá ít thông tin chính xác để có thể tổng hợp và nhận định được.

PS: Hồi bé tớ có đọc một cuốn tiểu thuyết tình báo nhiều tập (mà mình cũng không có dịp đọc hết) giờ quên mất tên về thời kỳ chống Pháp trong đó có nhân vật Lê Minh là tình báo Việt Minh và một cô Hoa kiều tên là Tiểu Mai. Hình như cuốn này cũng dựa trên nguyên mẫu thật. Không biết có ai biết tên cuốn sách đó là gì không và nhân vật nguyên mẫu là ai?

À về tiểu thuyết tình báo ngày trước còn có bộ Sao Đen của Triệu Huấn cũng khá hay nhưng hình như không dựa trên nguyên mẫu thật.

(Đã sửa một số thông tin nhầm lẫn về hai ông Lê Hữu Thúy và Đặng Trần Đức).

Tản mạn linh tinh

Thử bàn về vị thế của nhà văn trong xã hội Việt Nam. Có một câu có thể tóm gọn: vị thế của nhà văn trong xã hội Việt Nam thua kém rất rất nhiều lần so với vị thế trong xã hội của các nhà văn ở các nước phát triển.

Các nhà văn ở các nước phương Tây có một vị thế rất đáng nể với đời sống xã hội. Nhà văn ở một vị trí đặc biệt, họ là trung gian giữa nghệ thuật và xã hội, giữa tư tưởng và thực tiễn, họ có thể có sức ảnh hưởng lớn tới cả dân chúng và chính quyền. Một nhà triết học, một nhà chính trị học có thể có những luận thuyết, tư tưởng lớn nhưng chính các nhà văn mới là những người có thể cho các tư tưởng đó những hình hài, những cảm xúc, khiến chúng có được sức sống lâu dài.


Từ xưa tới nay, những nhà tư tưởng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới quần chúng đều có thể xem là những nhà văn. Hầu hết mọi người biết tới chủ nghĩa hiện sinh nhờ các tác phẩm văn học của Sartre và Camus chứ không phải bằng cách đọc sách triết của Heidegger, Sartre hay Jasper. Tư tưởng Nietzsche được tiếp cận từ góc độ một nhà văn. Và người ta đọc Trang Tử, Hàn Phi Tử hay cả Khổng tử (trong Luận ngữ) không như những cẩm nang triết lý khô khan mà còn là những áng văn hay, những câu chuyện thâm thúy thể hiện triết lý của các triết gia này.


Có thể có rất nhiều nghiên cứu về những sự tồi tệ của chế độ phát xít, chế độ toàn trị hay xã hội tư bản hay sự khủng khiếp của chiến tranh. Nhưng khi nói tới sự kinh khủng của chế độ toàn trị, nhiều người sẽ nghĩ tới cuốn 1984 của Orwell, sự khủng khiếp của chiến tranh- Remarque, Hemingway, Bảo Ninh; các xấu xa và thói đạo đức giả trong xã hội tư bản- Jack London hay Theodor Dreiser; sự cô đơn của con người trong một thế giới ngày càng ít tính cá nhân- Kafka…Cho tới những năm 60 của thế kỷ 20, các nhà văn từng được coi như những người hướng dẫn về tinh thần và tư tưởng cho các thế hệ, những Sartre-Camus ở châu Âu, Jack Kerouac- Alan Ginsberg ở Mỹ. Ngày nay, các nhà văn không còn có được những vị trí có ảnh hưởng mạnh mẽ như thế trong xã hội (cùng với việc giảm sút vai trò của sách và gia tăng các kênh thông tin khác như truyền hình, điện ảnh và Internet). Nhưng họ vẫn có những vị trí đặc biệt trong cái gọi là lương tri xã hội. Văn học là sự phản ánh toàn diện và đầy đủ nhất về cả tư tưởng và lương tri xã hội.

Lấy ví dụ về vấn đề khủng bố và tình hình Trung Đông. Nếu người phát biểu là một nhà nghiên cứu chuyên sâu về Trung Đông, tôi sẽ quan tâm tới khía cạnh nghiên cứu của ông ta trong việc đó. Nếu đó là một chính trị gia, well, tôi sẽ quan tâm tới khía cạnh thực tiễn của nhận định của ông ta, và ngầm giả định một sự thiên kiến nhất định do ảnh hưởng bởi niềm tin chính trị của ông ta. Nếu đó là một nhạc sĩ/họa sĩ/ca sĩ/diễn viên điện ảnh, tôi sẽ chỉ quan tâm tới việc đó như là ý kiến riêng của một celebrity. Nhưng nếu là một nhà văn nổi tiếng thì tôi sẽ để ý tới phát biểu đó như một đại diện (ở mức độ nào đó) của giới trí thức. Tất nhiên thực ra đó vẫn là phát biểu của riêng ông ta. Nhưng tôi vẫn cứ cho rằng văn học là một cầu nối giữa đạo đức và tư tưởng, là nơi mà người ta có thể và cần phải dung hòa được giữa Chân, Thiện và Mỹ. Sự phức tạp và yêu cầu cân bằng đó khiến các nhà văn trở thành người đại diện đầy đủ hơn cả cho giới trí thức, như là một giao điểm giữa tư tưởng (chân), lương tâm (thiện) và tâm hồn (mỹ) của người trí thức. Hơn nữa, họ còn vừa là trí thức vừa là nghệ sĩ. Và vì thế tiếng nói của họ có thể xem như tiếng nói đại diện cho giới trí thức và nghệ sĩ, mà trong bất cứ một xã hội nào thì giới trí thức- nghệ sĩ cũng là những người tiên phong, hướng dẫn đời sống tinh thần của toàn bộ xã hội.

Còn địa vị các nhà văn hay rộng hơn là người viết ở Việt Nam? Khỏi phải nói cũng biết là nó tệ như thế nào. Thời phong kiến: Nguyễn Trãi bị tru di, Nguyễn Du lạy lục hai triều đại, tới khi chết rồi còn bị Tự Đức dọa đánh, Cao Bá Quát cũng bị tru di (may là lúc đó chết rồi). Thời thực dân: “Nhà văn An Nam khổ như chó”. Thời XHCN “văn chương phải đạo” (Hoàng Ngọc Hiến), “viết phải lựa” (Hữu Thọ). Thời nào cũng thế, nhà văn ở Việt Nam chưa bao giờ có vị trí như những trí thức độc lập có chính kiến riêng. Tư tưởng duy nhất có thể có và được chấp nhận trong xã hội là tư tưởng “phò chính thống” (từ của Phạm Thị Hoài). Thế nên chẳng có gì ngạc nhiên là địa vị họ bèo bọt như lá cuốn chiều thu, một cơn gió nhẹ cũng đưa họ ngơ ngác rẽ tới nẻo nào chẳng biết. Với một cái nghề mà thân phận bèo bọt thế thì trách gì họ đều coi văn chương như một cuộc chơi, lấy gì để neo họ được.


Thế nên mới thấy buồn cười khi chủ đề café văn học của một nhóm văn sĩ và nhà phê bình ở Việt Nam được lấy tên là “Sức mạnh của ngôn từ”. Bởi vì ở Việt Nam, những ngôn từ có sức mạnh không phải là ngôn từ của các nhà văn. Thế nên lại càng buồn cười hơn khi sức mạnh của ngôn từ ấy lại dễ dàng bị bẻ gẫy chỉ bằng một cái roẹt bút của Sở Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Buồn cười nhưng cũng không có gì ngạc nhiên, dù rằng không muốn lại phải nói lại cái câu của ông G.S Hoàng Ngọc Hiến mà các văn nghệ sĩ và nhân dân Việt Nam thông minh, cần cù lao động và yêu chuộng hòa bình rất ưa chuộng “Cái xứ mình nó thế”


Trích đoạn về phản ứng của những diễn giả tham dự buổi café văn học đó sau khi buổi café bị cấm trên blog của nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh. Vẫn buồn cười và không ngạc nhiên. Không bình luận gì thêm.


“Lê Hoàng quay lại trêu Phạm Xuân Nguyên:-"Có ông vào tôi biết thế nào cũng cấm! Ở Sàigòn thiếu gì người MC tại sao phải nhờ một thằng Hà Nội?". Anh Nguyên không vừa: -"Ngồi ở bàn này ai Hà Nội nhất? Không phải là ông thì ai? Ông là dân Hàng Đào, tôi vẫn là dânmiền Trung kia mà! hù hù!". Lê Hoàng quay sang Trâm:-"Hôm nay làm chủ đề gì em?". Trâm tưởng anh Hoàng không biết thật, nhắc:-"Sức mạnh của ngôn từ!". Hoàng tru tréo: -"Ối giời ơi! Cái chủ đề gì mà gớm thế! Sức mạnh của ngôn từ thì thảo luận với nhau hàng năm không hết làm ***** gì xong một buổi? Sức mạnh sức méo! Nó cấm cho là phải!..". Hoàng chỉa mũi dùi quay sang Nguyên:-"Tại sao lại lấy chủ đề "vật" thế? Sao không lấy những chủ đề khác như "Nhà văn và nhuận bút", Thu nhập Nhà văn" hay "Nhà văn kiếm tiền thế nào trong kinh tế thị trường"? Cứ thị trường vào là an toàn!!! Đề với chả tài..." Nguyên cười hóm: "Thì thị trường như "Gái nhảy", "Trai nhảy" của ông là an toàn chứ gì!". Hoàng đốp lại: -"Tôi làm phim thương mại chứ không làm phim thị trường!"...



Lại thử hỏi "đùa" nhau về sự cấm. Tại sao cấm cafê văn học nhỉ? Lê Hoàng đùa, bảo, những chương trình của Hội đồng Anh mới, và đây là “hậu quả của việc dân chủ quá trớn”. Trâm cho hay Sở Văn hóa thông tin TP.HCM trước khi có công văn cấm đã yêu cầu phải "cung cấp cụ thể bản danh sách khách mời và đối tượng được mời" (!?) thì mới cho làm nhưng British Council không thể cung cấp được! Bởi người được mời và người đã đến dự không hoàn toàn là một. Họ yêu văn chương thì họ đến chứ không ai muốn bị phiền toái, muốn bị "liệt kê" tên tuổi vào một bản danh sách cả! Muốn tất cả "đi chỗ khác chơi" thì thiếu gì cách "diễn"! Anh Nguyên nói:-"Nếu Sở không đồng ý với tư cách của diễn giả hay MC thì cũng có thể gợi ý cho Ban tổ chức thay đổi. Sao lại tùy tiện cấm ngang như vậy! Còn gì văn hóa nữa!?". Nhưng rồi anh cười cười giễu nhại một lời hát của nhạc sĩ Xuân Hồng:-" Suy cho cùng cũng là "lỗi" tại mình. Bởi cách đây 30 năm ông Xuân Hồng đã viết "tuổi lớn rồi vẫn như ngây thơ". Mình không ngộ ra làm chi! Khổ!"!”


Nhưng có cái này thì ngạc nhiên và không buồn cười. Đó là phản ứng trên mạng của các bạn ở một diễn đàn vẫn hay tự hào là trí tuệ nhất Việt Nam, tập trung nhiều trí thức nhất. Không có một lời nào than phiền về cách xử trí thiếu văn hóa của Sở Văn hóa TPHCM, trái lại toàn các ý kiến kẻ cả dè bỉu nặng nề (thậm chí thô bỉ) những người tham dự. Một thái độ phản trí thức ở mức cực đoan như thế lại trong số những người có thể được coi là trí thức. Dù rằng có thể Hội thảo đó là nhạt nhẽo và không ích lợi gì mấy. Dù rằng những người tham dự Hội thảo chưa thể được coi là đại diện của văn học Việt Nam (nhưng có nhất thiết là cần đại diện và lấy tiêu chuẩn gì để chọn đại diện).. thì đó cũng là một hoạt động văn hóa lành mạnh ở một xứ sở đã quá thiếu các hoạt động văn hóa lành mạnh và làm gì cũng phải dấm dúi thậm thụt!. Chẳng nhẽ dân chủ là khi bạn có thể nói xấu chế độ ở quán bia (và đôi khi trên mạng) nhưng lại không thể tham dự công khai một sinh hoạt văn hóa? Và trí thức là người thấy hả hê khi thấy người trí thức khác bị bịt miệng?

Tôi nghĩ đó là một sự thảm hại về tinh thần (mentality) trong số rất nhiều người có học ở Việt Nam. Biểu hiện trước hết là một sự dè bỉu đối với bất kỳ những nỗ lực nào của một số người muốn cái dây trói tinh thần của họ nới lỏng hơn một chút.

Trích vài ý kiến trên diễn đàn:

“Anh ngồi xem vỗ tay tán thưởng như xem khỉ diễn trò, lại thêm bọn bồi bút chuyên xỏ xiên chọc ngoáy BBC hò reo cổ vũ. Cứ như là cái lũ vô công rồi nghề ấy là đại diện cho cả nền văn học Việt Nam không bằng.”

“Bình thường bọn viết lách đã lôi nhau lên mạng chửi nhau không ra cái chó gì. Bây giờ lại kéo nhau ra giữa chợ lâu xâu bâu này. Hoa mĩ thì gọi là đàm luận, thực ra là táng nhau trước sự chứng kiến (cổ súy) của mấy thằng mắt xanh mũi lõ, cảnh tượng lố bịch vậy còn để tiếp diễn thì hỏi dân tình ta còn mặt mũi nào. Dẹp cho lành mạnh.”

...

Kết lại bằng một bài thơ của Tagore:

Bài 28 tập Lời dâng


Những chướng ngại thật là dai dẳng
Vậy mà khi thử phá chúng đi
ta nghe đau nhói trong lòng
Ta ham muốn tự do,
Nhưng tưởng vọng đến nó
Ta lại thấy mình xấu hổ.
Ta biết chắc
sự giàu sang vô giá là ở nơi ngươi,
và biết ngươi là người bạn quý nhất của ta,
vậy mà ta chẳng lòng nào xua đi
bao rác rưởi đầy ngập cả căn phòng.

Tấm vải phủ trên mình ta
là tấm vải bụi nhơ và chết chóc;
Ta ghét nó,
vậy mà ta vẫn thiết tha ôm nó vào lòng

Nợ của ta khá lớn,
những điều sơ hở thì nhiều,
và nỗi nhục nặng nề, sâu kín;
Vậy mà khi đòi hỏi cho những sự tốt lành
thì ta lại run lên
vì sợ lời cầu xin kia được chấp thuận

Rất có thể vấn đề đối với Việt Nam hiện nay không phải là dân chủ, mà cũng không phải là cặp nhị nguyên dân trí hay dân chủ (cái nào nên có trước- con gà hay quả trứng?), mà chính là cái mentality của người Việt.

Saturday, August 04, 2007

Chơi văn

Nhân chuyện văn sĩ trẻ và chick-lit, nói thêm một chuyện khác. Chuyện này nhân việc lúc nãy tớ vào trang web của Trần Thu Trang thấy có câu này “Nhưng do một số nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, tôi quyết định chọn tác phẩm sinh sau đẻ muộn [Phải lấy người như anh] để thực sự bắt đầu cho cuộc chơi văn chương của mình”. Và tớ nhớ ra rằng thỉnh thoảng đọc trên báo chí, các tác giả trẻ cũng hay nói một ý tương tự :“chơi văn chương”.

Dường như với họ, văn chương chỉ là để chơi? Hay là họ dùng chữ “chơi văn chương” thì sẽ có vẻ sang hơn, hoặc tạo cảm giác họ là người đa tài, chỉ ghé vào việc viết văn chút thôi mà đã làm được thế? Hoặc là vì họ không thấy tự tin vào khả năng và tác phẩm của mình, hoặc họ nói thế để tự cảm thấy yên lòng, để bào chữa cho việc họ chưa dành đủ thời gian và nỗ lực cho công việc viết văn? Có thể có nhiều lý do mà tớ không biết chính xác nhưng thực sự khi đọc thấy việc các nhà văn trẻ (thôi gọi là người viết trẻ cho các bạn ấy yên tâm mà có lẽ cũng chính xác hơn) có thái độ coi việc viết văn chỉ là “chơi văn chương” tớ cảm thấy có một sự thiếu nghiêm túc và chuyên nghiệp trong thái độ với công việc viết văn. Và còn thấy thiếu cả sự say mê nữa. Nếu như đúng là họ có thái độ thiếu chuyên nghiệp, thiếu nghiêm túc và thiếu cả say mê thì liệu còn có thể trông mong gì từ tác phẩm của họ? Nhớ cách đây lâu lâu, Cao Việt Dũng có bài viết trên VNN đại ý bảo là ở Hà Nội có quá nhiều những người chơi văn chương (hay nghệ thuật nói chung) trong khi lại có quá ít những người thực sự nghiêm túc với công việc văn chương (hay nghệ thuật nói chung).

Không nhất thiết người viết văn phải kiếm sống bằng nghề viết văn, thậm chí ở Việt Nam chắc hầu như chẳng có ai kiếm sống bằng việc viết văn. Nhưng thái độ với công việc viết văn cần được thể hiện nghiêm túc hơn. Việc những người viết văn đều bày tỏ rằng họ xem nhẹ việc viết văn (có thể trong thâm tâm họ không thế) hay tự phân trần rằng họ viết một cuốn tiểu thuyết nào đó một cách rất nhẹ nhàng như là một thú vui không phải là một tín hiệu tốt cho thấy lao động thực sự và nghiêm túc của họ. Kafka khi xưa là tiến sĩ Luật, kiếm sống bằng nghề mài đũng quần trong văn phòng và hầu như không xuất bản được một tác phẩm nào trong đời. Thế nhưng khi sáng tác, ông cực kỳ nghiêm túc, các bản thảo được ông sửa đi sửa lại hàng chục lần, các sáng tác của ông cũng thường xuyên được đọc cho bạn bè nghe để góp ý.

Xin trích một đoạn trong bài của chị 2 4 6- một người viết và blogger tớ rất nể trọng- bàn về tính chuyên nghiệp:

“Bạn nào đã xem phim HMRBL có thể còn nhớ cảnh chiếc xe ngựa đi qua một cánh đồng trải suốt một chân đồi rộng. Suốt buổi sáng hôm quay tôi đã đi nhặt rác trên cánh đồng (bất tận) đó. Lúc nhặt mới biết người ta vứt bao nhiêu bao ni lông ngoài đồng. Mọi người trong đoàn đều từ chối làm cái việc không mấy danh giá này, không ai đồng nghĩa việc đi làm phim với việc đi nhặt bao ni lông. Vì vậy, họ thiếu chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp không phải là hiểu nghệ thuật, có ý tưởng hay, tác phẩm đột phá. Ý tưởng, khi đến, hoặc đi, nó không màng tác giả của nó có chuyên nghiệp hay không. Người chuyên nghiệp là người thấy công việc mình đang làm là trung tâm của đời mình, ít nhất là trong lúc mình làm nó. Đủ gắn bó và trách nhiệm để đi nhặt bao ni lông trên cánh đồng, nếu mình quyết định điều đó cần thiết cho công việc, bất kể công việc đó hay hay dở.


Cúi nhặt bao ni lông trên đồng chỉ mỏi lưng thôi, chứ không khó. Nhặt bao ni lông trong một trang sách, giữa những chữ viết, ý nghĩ, hình ảnh, cấu trúc… thực khó hơn bao nhiêu lần. Đó là lúc tác phẩm cần sự chuyên nghiệp hơn lúc nào hết. Tác giả phải đứng lui ra để có được khoảng cách giữa mình và tác phẩm, phải dụi mắt, uống nước lạnh, để không đắm chìm trong tình yêu dành cho mọi thứ gì mình viết ra. Rồi lại phải đốt đi đốt lại ngọn đèn cầy bên trong lòng vì nó cứ hay tắt đi khi bụng mình đầy nước lạnh. Không có chút lửa cần thiết, tâm tưởng cũng u tối, theo một cách khác.

Tôi nói với cô bạn rằng tôi viết, nhưng không chọn viết là một nghề, và như vậy, khi tiểu thuyết đến giai đoạn cần sự chịu cực chịu khổ của một người xem việc viết là trung tâm của đời mình, nghĩa là cần đến một người chuyên nghiệp, thì tôi gặp mâu thuẫn mãnh liệt. Thật khó giải thích với mọi người, và với mình, rằng người ta có thể bỏ ra hai năm làm việc nghiêm túc cho một tác phẩm chỉ mang lại đủ tiền ăn sáng cho mấy mẹ con trong hai tuần. Còn nếu viết không phải để kiếm tiền ăn sáng, thì vì cái gì?

Chắc chắn là phải vì một cái gì khác rồi. Tôi biết nó là cái gì. Điều tôi không biết, đó là tình yêu đó – tạm gọi viết là một thứ tình yêu – nó là một chuyện may hay chuyện rủi.”



Bạn có thể cảm thấy mình chưa đủ tính chuyên nghiệp hay chưa sẵn sàng cho nó? Cũng tốt thôi nếu bạn thực sự hiểu được điều này. Nhưng nếu như một nền văn học mà trong đó đa số người viết văn đều ảo tưởng là “chơi văn” thì hay hơn, sang hơn so với “công việc viết văn” thì nền văn học đó là một nền văn học ngắc ngoải (cũng chính vì ý thức viết văn/thơ là để chơi mà các nhà nho thời xưa dù làu thông kinh sử, chữ nghĩa, nhưng hầu như không viết được cái gì dài dài đòi hỏi nhiều công sức. Quanh quẩn chỉ các bài thơ chén tạc chén thù, không “Thu hứng” thì cũng “Thu ẩm”, hết hứng với hết ẩm thì cũng hết thơ, nhưng xuân thu nhị kỳ làm và
i bài thơ là đủ thành thi sĩ!). Và chắc chắn là không có ý thức về tính chuyên nghiệp, người viết văn sẽ khó lòng tạo ra một sản phẩm độc đáo. Rất hiếm nhà văn viết tiểu thuyết vào các chiều chủ nhật mà lại viết ra được một cái gì đó có giá trị.

Saturday afternoon with Vietnamese Chick Lit

Một buổi chiều và tối thứ bảy đọc Vietnamese chick-lit trên Vnthuquan. Sau “Tìm trong nỗi nhớ”, hồi ức của cựu du học sinh ở tuổi 40 là hai cuốn chick-lit (dịch: văn cho gái) của một tác giả 8x và một tác giả 7x.

Cuốn 1 là “Phải lấy người như anh” của Trần Thu Trang.

Cuốn này mở đầu cũng không đến nỗi tệ nhưng càng đọc thì càng phô. Được cái đọc cũng buồn cười cho dù lý do buồn cười là vì nhiều cái phi lý, ngớ ngẩn trong đó. Từ trước, tớ vẫn có cảm tính với em One/Thiếu-iốt trên mạng và khá thích cái mục Thư hàng tuần trên blog của em ấy nhưng mà truyện này thì đúng là một soap opera ngớ ngẩn. Việc truyện này bán chạy và được nói nhiều thế trên báo chí cho thấy đúng là văn hóa đọc của Việt Nam có nhiều vấn đề, kể cả ở mức độ đại chúng. In any case, it's absolutely not well-written.

Ví dụ đọc đoạn văn như thế này thì tớ không thể không buồn cười: "Những sợi tóc ngắn bết trên vầng trán khôi ngô, đôi mắt nâu sau cặp kính và đôi môi mím chặt khiến anh mang một vẻ trầm mặc u uẩn như thể triết gia. Chiếc quần jeans hơi bạc, chiếc sơ mi kẻ sọc nhỏ bên trong và chiếc áo gió bên ngoài đều không có gì đặc biệt nhưng toát nên vẻ thanh lịch. Và nếu anh không gọi cà phê bằng tiếng Việt có lẽ mọi người vẫn tưởng anh là một khách du lịch Nhật Bản Hàn Quốc nào đó như khi mới bước vào."




Mà trong truyện này thì những đoạn văn kiểu kiểu thế, thậm chí còn nhàm và sến gấp bội lại hơi bị nhiều. Kể ra cũng có vài đoạn được được như khi tả cảnh ở Hội An. Vài đoạn thể hiện tâm trạng nhân vật cũng có thể coi là được. Nhưng plot của truyện thì rất ngớ ngẩn, rất có chất của một kịch bản phim truyền hình hạng B của Việt Nam.

Sau kết thúc fantasy của chị Thu Trang về một anh Việt Nam nhưng nếu không nói tiếng Việt thì mọi người sẽ tưởng là khách du lịch Hàn Quốc thì tớ chuyển sang fantasy của chị Dương Thụy về một anh Bồ Đào Nha có cách nói chuyện rất Việt Nam trong “Oxford thương yêu” (tên rõ kêu, theo style kiểu Chuyện tình Harvard). Oh, My God, "Oxford thương yêu" nước ốc gọi bằng cụ :(. "Phải lấy người như anh" ít ra còn có cốt truyện có thắt nút mở nút khiến tớ còn chịu khó đọc chứ "Oxford thương yêu" là một thứ phế phẩm lảm nhảm và tự huyễn hoặc. Ngày xưa hồi còn Hương Đầu mùa thỉnh thoảng đọc truyện ngắn của Dương Thụy cũng không đến nỗi nào mà sao sau 10 năm chị này không những không tiến bộ lại càng ngày càng phô phang, vô duyên và ngô nghê đến thế. Đến chịu với một số văn sĩ Việt Nam :(. Cứ lảm nhảm các câu chuyện ngớ ngẩn, những mẩu đối thoại không đầu không cuối như thế mà cũng thành tiểu thuyết quá bằng tè vào văn học. Mà tớ đọc một số truyện của chị Dương Thụy còn cảm thấy chị này hơi bị ẩn ức ám ảnh về sado-masochism, hoặc là fantasy về kiểu mẫu thiếu nữ ngây thơ và bướng bỉnh, luôn được đàn ông ngưỡng mộ hay thèm thuồng (thông minh thì tất nhiên rồi- là alterego của Dương Thụy mà lại).

Một chị văn sĩ 32 tuổi mà vẫn chọn alter-ego là thiếu nữ ngây thơ, trong trắng và tương đối đức hạnh nhưng vẫn khiến đàn ông dễ turn on- nhân vật này trong truyện còn rất thích được các anh gọi là Lolita bé nhỏ, lol (không hiểu chị Thụy đã đọc Lolita của Nabokov bao giờ chưa?). The unbearable lighness of stupidity?

Hôm trước nghe bạn nào bảo là ở nước Nam mình, ai viết đúng chính tả thì có thể thành nhà văn, mà sai chính tả thì thành nhà thơ. Kể cũng đúng. Mà chắc cũng chẳng cần viết đúng chính tả lắm vì đằng nào cũng có biên tập rồi, nếu biên tập có không để ý nữa thì bạn đọc chịu khó vậy. Chắc vì thế mà các nhà văn của chúng ta ít khi chịu học cách viết văn (cần gì học cũng đã là nhà văn/nhà thơ rồi).

Chọn một đề tài thời thượng (tình yêu du học sinh thời a còng ở một trường đại học uy tín hay quan hệ tình cảm của gái văn phòng thời mở cửa) xong rồi ngoáy bút hí hoáy là có thể thành nổi tiếng rồi.

Entry for August 04, 2007

Home
Daughtry

I'm staring out into the night,
Trying to hide the pain.
I'm going to the place where love
And feeling good don't ever cost a thing.
And the pain you feel's a different kind of pain.

I'm going home,
Back to the place where I belong,
And where your love has always been enough for me.
I'm not running from.
No, I think you got me all wrong.
I don't regret this life chose for me.
But these places and these faces are getting old
So I'm going home.
Well I'm going home.

The miles are getting longer, it seems,
The closer I get to you.
I've not always been the best man or friend for you.
But your love, remains true.
And I don't know why.
You always seem to give me another try.

So I'm going home,
Back to the place where I belong,

And where your love has always been enough for me.
I'm not running from.
No, I think you got me all wrong.
I don't regret this life chose for me.
But these places and these faces are getting old.

Be careful what you wish for,
'Cause you just might get it all.
You just might get it all,
And then some you don't want.
Be careful what you wish for,
'Cause you just might get it all.
You just might get it all, yeah.

Oh, well I'm going home,
Back to the place where I belong,
And where your love has always been enough for me.
I'm not running from.
No, I think you got me all wrong.
I don't regret this life chose for me.
But these places and these faces are getting old.
I said these places and these faces are getting old.
So I'm going home.
I'm going home.

yfla.wrap("This multimedia content requires Flash version 9 and above.", "Upgrade Now.", "http:\/\/www.adobe.com\/shockwave\/download\/download.cgi?P1_Prod_Version=ShockwaveFlash", "");To view this multimedia content, please enable Javascript.

300k



Không tóm được con 300,000 nhưng tóm được 299,999.

Hôm nay giời nhẹ lên cao, mới thử đọc truyện “Tìm trong nỗi nhớ” của chị Lê Ngọc Mai xem thế nào. Truyện này hình như từng khá nổi tiếng trong cộng đồng mạng. Thấy cũng tàm tạm, không đến nỗi tệ quá nhưng cũng nhàn nhạt, tác giả kể chuyện cũng hơi hơi có duyên nhưng truyện thì đậm tính kể lể tâm sự bạn gái, dưa cà mắm muối, và thể hiện rõ tính không chuyên nghiệp của người viết. Cũng có thể hợp với văn chương blog (dù chị này viết từ hồi chưa có blog). Đọc cho vui thì cũng được nhưng truyện này trở nên nổi tiếng thế và gây xúc động cho nhiều người đọc như thế thì mình cũng hơi ngạc nhiên, nhất là lại còn được giải thưởng của Hội Nhà văn thì lại càng làm mình ngạc nhiên hơn. Chắc chị Lê Ngọc Mai viết blog hay viết truyện nhiều kỳ trên blog sẽ có duyên hơn là viết truyện dài hay tiểu thuyết (một cách nghiêm túc).

Random một đoạn trong “Tìm trong nỗi nhớ” nhé:

“Tôi không ngờ con trai Sài Gòn lại có giọng nói hay đến vậy: trầm, nam tính nhưng lại khá nhẹ nhàng, ấm áp, tình cảm nhưng không hề suồng sã, tóm lại là một giọng nói trời cho để gây lòng tin ngay phút ban đầu ở người đối thoại ( chính xác hơn là ở người đối thoại thuộc nữ giới).”

Cái này mình không phải là gái nên không biết có đúng không?

Các truyện có thể sẽ lướt qua xem viết về gì (để còn theo kịp tinh thần văn hóa đại chúng): Phải lấy người như anh, Oxford thương yêu. Danh tác Cô đơn trên mạng thì dài quá, nên chắc không có kiên nhẫn đọc trên mạng (trong trạng thái cô đơn) được. À còn “Xin lỗi em chỉ là con đĩ” nữa, cũng chưa đọc. Còn cuốn nào mà thịnh hành ở Việt Nam trong thời gian gần đây không nhỉ? “Lê Vân, yêu và sống” hay “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” thì đều đã đọc trích đoạn rồi, không có nhu cầu đọc cả cuốn.

Bài hành phương Nam

Đọc trên blog của Nam Giang thấy bài thơ này của Nguyễn Bính, viết theo thể Hành, thấy rất lạ, khác với đa số các bài khác của ông.

Nguyễn Bính viết thơ tâm sự tha hương, giang hồ rất hay, các bài như “Xuân tha hương” “Trời mưa ở Huế” đọc buồn tê tái.

“Nón lá áo tơi ra quán chợ
Chơ vơ trên bến nước sông đầy
Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả
Chén ứa men lành lạnh ngón tay .


Bài này cũng rất hay. Nếu như Tống biệt hành của Thâm Tâm gợi nhớ tới hình ảnh của một Kinh Kha tóc dựng trước gió, quyết chí ra đi trong các câu thơ “Chí lớn không về, bàn tay không. Thì không bao giờ nói trở lại. Ba năm mẹ già cũng đừng mong.” thì Kinh Kha trong thơ của Nguyễn Bính là chàng Kinh Kha tha hương, buổi chiều quán vắng chốn tha hương, chung ly rượu, nghêu ngao hát bên Cao Tiệm Ly rồi cùng nhau ôm mặt khóc.


“Hỡi ơi ! Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây ?
Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay ?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây.”


Bài Hành Phương Nam


Hai ta lưu lạc phương Nam này
Đã mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Riêng ta với ngươi buồn vậy thay !
Lòng đắng xá chi muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say !
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu chưa ai may !
Ngươi giam chi khí vòng cơm áo
Ta trói thân vào lụy nước mây
Ai biết thương nhau từ buổi trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây
Nợ thế, trả chưa tròn một món
Sòng đời, thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi ! Buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy
Vẫn dám ăn tiêu cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi sẽ hay
Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ?
Cốt nhất cười vui trọn tối nay
Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay .

Hỡi ơi ! Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây ?
Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay ?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi !

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại
Hát rằng phương Nam ta với ngươi
Ngươi ơi ! Ngươi ơi ! Hề ngươi ơi !
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi !

Đa Kao 1943
Gửi Văn Viễn

Nguyễn Bính


PS: Hai câu ““Hỡi ơi ! Nhiếp Chính mà băm mặt. Giữa chợ ai người khóc nhận thây ?” làm mình nhớ tới sự tích người chị gái Nhiếp Chính (hình như không có tên) khóc nhận thây Nhiếp Chính bị quăng giữa chợ, thấy hao hao với sự tích Antigone chôn xác em trai trong thần thoại Hy Lạp- một sự tích là cảm hứng trong rất nhiều vở bi kịch từ thời cổ đại tới hiện đại. Đông và Tây xem ra cũng có nhiều cái giống nhau.

Và cái thời Xuân Thu- Chiến Quốc phải chăng là khoảng thời gian kỳ thú nhất trong lịch sử Trung Quốc?



Friday, August 03, 2007

On architecture etc.

This piece of writing about architecture (and others) by hoaianh is interesting and inspiring. So I decide to copy it to make my blog more intellectual and visionary.

….

Question that I have been asked many times these days when i meet new people: Where are you from? Answer (forced): I'm from Vietnam. Next step: usually a long silence, or a polite comment like: "Oh, how I want to visit Vietnam! My friend came there and fell in love with the country. Quite different, he said."

I have to say that i hate to answer this question, and i don't feel better when hearing comment about the country being "special"," exotic" or "different". I wish I were born Spanish, then we could talk about Calavatra or Gaudi, or should I have been born Japanese, we could talk a whole lot about... a bunch of names :) Or Switzerland, great, Herzog & de Meuron would be a nice conversation. I can think of many countries of which I would like to be citizen, even messy Italy has Renzo Piano, you know. Oh, and I forgot, Cambodia has Angkor.

People from cinema, at least you have Tran Anh Hung and the Scent of papaya to talk about. People from mathematics should be proud as this is our strongest field of science. People from music, maybe you can talk about Dang Thai Son although it was a long time ago.

But for me, I kept silent and kept thinking about OUR history of architecture. We had NOTHING! The past looks undoubtedly blank. We have never had any tradition to build anything big and sustained, let alone beautiful, we have never had any name in architecture. The last century was shadowed by two wars and many years of socialist realism's doctrine. The present doesn't look any better as less ugly/nice things built at home are from foreigners and the architecture from domestic source looks truly ugly :( Is it true that Vietnamese cannot do architecture?

Here are the observations about what we don't have, things that may affect our ability of doing architecture:
- Vision. Short-term thinkings and small scales suit us best, I personally feel this :(, recent stock fever shows this. We can do nice interior, decorate small corner, draw painting, do graphic design, make clothes... Not extraordinary though, but with acceptable quality, this doesn't happen with big scale architecture. I somehow feel that this lack of vision may be the biggest reason for the whole state of cultural (also social?) underdevelopment , and especially with such a complex profession like architecture that rooted deeply in many social, cultural, artistic layers.

The followings 2 are from race:
- Intelligence. Simply have to accept this. Try to work within the stock we have.
- Creativity & imagination. Maybe we have to accept that most of us are not born withthese wonderful qualities. The solution is to copy and paste (I did), this is good enough :), even to properly copy things needs training. However we can copy nice interiors (back to short-term and small scale issue :)), but copying architecture is hard, because it then requires once again vision and intelligence, what we lack.

But then there's something else
- Responsibility. I don't know why we don't have this but this is fact. Average European almost always does their job with high level of responsibility, even with simple job in supermarket, not speaking about super important ones.
- Discipline (thus may affect a lot the ability of thinking structurally). I don't know why either :( It is seen that Western Europeans have strong sense of organising things and following rules while going further to Italy things get more messy, Japanese are super well-organised while Vietnamese doesn't really care to put oneself into any discipline if not forced. Laziness is also genetic?
- I also think about how we easily accept one solution (very primitive one) and never try to surpass ourselves and to think more and push things further. This is one thing that we sure have, with abundance: laziness.


- Finally I think about our whole society is about earning money in the most rapid way, letting no chance for other thinking, no chance for anything visionary, in long-term. This could be explained by difficult, nearly starving years experienced by our parents' generation when the ultimate thought is about having something in the stomach. Having nothing to eat is not much a concern nowadays yet this obsessive thinking that money is everything is lingering like a ghost. The stock fever with uneasy feelings from friends and relatives and from myself made me realize that we have never escaped this, that our life is still all about having house and car or having more houses and more cars. After one or two generations will this disappear? Probably not, once without vision, forever without vision.

... When I can think of more I will add.

How is the future? The future is any better?
….
After so many years of isolation, we started to have a generation of young architects who have talents, have proper education and have strong exposure. Economic climate is changing too, and what is best for us is that it brings even more exposure. For the first time, we have the chance to build our history of architecture.
Hope this will brighten the future.
...
But if all of those characters above are not changed in a majority of our population, then I think things won't change much. Architecture grows with society, not with individual efforts. Thing i fear is that if these are really genetic traits, then we should have no hope !
Speaking of economy, I'm optimistic. But about culture, and architecture, I'm the opposite.

My comments:


What about Ngo Viet Thu, the first and only Asian to receive the Grand Prix de Rome- the most prestigious prize of the Beaux Arts de Paris. His entry in Wikipedia is here: http://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Viet_Thu.

However, it seems that the Independence Place is the only important building that he ever designed.

I think that our people's intelligence is all right (as reflected by the fact that Vietnamese are not bad in studying science, for example), but it’s true that our creativity, vision and imagination are limited.

For responsibility, discipline and laziness: I think the Southern Europeans (Italian, Spanish) also have problems with these things. But they have imagination and passion to offset for that disadvantage. We lack all.

And your point about money is also true. We (Vietnamese) think we need food more than we need art, we want people respect us for being rich rather than for having good tastes. This is a characteristic from a growing but still very poor economy. Look back at our history, we never truly respect arts, especially visual arts. We had no individual painters before the French came. We killed the best architect that we had during the 16th century (his name is Vũ Như Tô, btw) because he dared to build something great. Before the 20th century, the only Vietnamese architect that left certain works for later (ironically, non-Vietnamese) generations is Nguyễn An, a Vietnamese eunuch in the Ming dynasty, China, who participated in designing and overseeing the Ming palaces. So, architects have no place in Vietnam, sadly enough, that's our tradition.

Thursday, August 02, 2007

Sử Mông Cổ

Bài này tổng quan tương đối đầy đủ về lịch sử Mông Cổ (dạo này tớ cũng hơi quan tâm tới lịch sử các nước “tứ di” của Trung Quốc như Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản).

VÍ dụ các chi tiết sau:

“Từ thế kỷ thứ I sau Công Nguyên đến thế kỷ thứ IV, người Mãn Châu Tiên Ty (Sien Pi) kiểm soát miền đông xứ Mạc Bắc. Miền tây là đất của A Đề Lai (Attalia). Ông chúa Hung Nô này, có lẽ là người Đột Quyết, mang quân sang tận Đông Âu, chiếm đóng đồng bằng Pannonie, nay gọi là Hung Gia Lợi (Hongrie). Năm 441, A Đề Lai xâm lăng đế quốc Đông La Mã (empire byzantin), tàn phá bán đảo Ba Nhĩ Cán (péninsule des Balkans), năm 451 vượt sông Rhin đánh vào Pháp nhưng bị thua liên quân La Mã, Burgondes, Francs, Visigoths trên những cánh đồng Catalauniques (ở miền Champagne bây giờ). Năm sau, ông định đánh thành La Mã (Rome), nhưng đã bị giáo hoàng Leon le Grand thuyết phục bằng việc nộp cống phẩm. Ông chúa Hung Nô bằng lòng nhận cống phẩm và rút quân, quay về Pannonie và năm 453 chết thình lình.”

Ngườn Hun di cư từ Mông Cổ sang châu Âu là một quá trình hàng trăm năm mới tới Atila chứ không phải Atila vừa làm vua Hung Nô ở Mông Cổ lại vừa sang tận châu Âu chinh phạt như thế. Lúc Atila làm vua người Hun (chưa được chứng minh rõ ràng có phải cũng chính là người Hung Nô hay không) thì người Hun đã cư trú ở Hungary một thời gian lâu rồi. Nhưng ông này nói đúng ý là Hung Nô thuộc về giống Thổ chứ không phải giống Mông Cổ, mà đúng ra thì phải gọi là tiền- Thổ (proto-Turkish) và tiền- Mông Cổ (proto-Mongol).


“Năm 960, nhà Tống thống nhất Trung Nguyên. Nhưng chẳng được bao lâu, những rợ chung quanh mạnh lên, áp chế cả thiên tử. Thuở ấy, các nước rợ mạnh đáng kể là: Đại Hạ, Liêu (có nghĩa là Sắt), Kim (có nghĩa là Vàng) và Tây Liêu.

….
Phía tây khu vực của người Mông Cổ là nước Tây Liêu, địa bàn là khu Tân Cương của Trung Hoa và nước Kazakhstan bây giờ, kinh đô là Hổ Tư Oát Nhĩ Đoá (Husiwoerduo). Cư dân ở đây là người Duy Ngô Nhĩ, một ngành của giống Đột Quyết, theo đạo Hồi.”


Chi tiết này cũng không chính xác. Nước Tây Liêu được thành lập sau khi nước Liêu của người Khiết Đan bị nước Kim của người Nữ Chân diệt, quý tộc Khiết Đan mang 10 vạn quân dân tiến sang Trung Á, lập ra nước Tây Liêu đóng đô ở Kyrgyzstan. Cư dân nước này gồm nhiều chủng tộc, đông nhất có thể là người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) cùng các dân tộc nói tiếng Thổ khác (như người Naiman) nhưng lãnh đạo thì lại là người Khiết Đan (thuộc nhóm Tiên Ty- Mãn Châu). Nhưng tới giai đoạn người Mông Cổ thôn tính Tây Liêu thì người Naiman (một bộ lạc Mông Cổ nói tiếng Thổ không chịu đầu hàng Thành Cát Tư Hãn mà chạy sang Trung Á nương nhờ Tây Liêu) đã lật đổ ách thống trị của quý tộc Khiết Đan để làm chủ Tây Liêu rồi.


Còn vài chi tiết nho nhỏ khác. Nhưng nói chung bài này cũng có ích, cho một cái nhìn tổng quan và khá chính xác về lịch sử Mông Cổ trước và sau Hốt Tất Liệt, dù cách dùng từ hơi cũ, hơi kiểu giản sử theo phong cách Nguyễn Hiến Lê.

Black Book and A Bittersweet Life

Nhân thể điểm qua các phim xem gần đây:

1. Black Book- Not bad but could be really good.

http://www.indiewire.com/ots/BlackBook.jpg

Phim Hà Lan- là phim Hà Land được đầu tư nhiều nhất từ trước tới nay và cũng là phim thành công nhất về thương mại. Nhân nói về phim Hà Lan, thấy danh sách nominate Oscar trong mấy năm gần đây cũng có vài phim của Hà Lan nhưng mình chưa xem phim nào- đây chắc là phim Hà Lan đầu tiên xem.

Gọi là phim Hà Lan nhưng là phim có nhiều chất Holywood bởi đạo diễn phim người Hà Lan nhưng đã làm phim ở Holywood trong nhiều năm (đạo diễn Bản năng gốc). Nội dung phim khá hấp dẫn, có nhiều cái twist tương đối bất ngờ, và có cách nhìn tương đối mới về chiến tranh thế giới Thứ Hai với những sự phản bội, tàn nhẫn, tham lam và hèn nhát không chỉ ở phía phát xít mà còn ở phía lực lượng kháng chiến và quân Đồng Minh. Có một số sự kiện khá shocking mà xem phim này mình mới biết, như việc quân Canada để cho quân Đức đã đầu hàng tiếp tục xử tử những lính Đức đã bị kết án tử hình trước đây.

Diễn viên chính đóng hay. Diễn viên nam chính cũng chính là người đóng vai ông kịch tác gia trong The Lives of Others. Nhưng diễn viên nữ chính mới thực sự xuất sắc, vừa đóng hay vừa gợi cảm chết người!. Một bộ phim kết hợp nhiều yếu tố: drama, romance, thriller, war một cách tương đối nhịp nhàng. Cinematography cũng đẹp.

Có thể nói phim này có khá đủ chất liệu để trở thành một phim kinh điển về chiến tranh thế giới thứ Hai. Nhưng những yếu tố đó đã không được tận dụng để rồi cuối cùng bộ phim trở thành một tác phẩm lộn xộn và tầm tầm. Kịch bản phim có quá nhiều lỗi, quá nhiều plot holes và sự trùng hợp ngẫu nhiên, đạo diễn khai thác quá nhiều cả sự hài hước thô lỗ (crude humor) lẫn các yếu tố thô tục khác một cách không cần thiết. Nhân vật viên sĩ quan Đức được xây dựng rất nông, còn nhân vật tay bác sĩ Hà Lan lẽ ra rất hay thì lại được xử lý một cách vội vàng. Phim cũng nhiều yếu tố melodrama với các chi tiết sáo (cliché) và bất hợp lý. Thế nên rốt cục bộ phim chỉ thành một tác phẩm đáp ứng thị hiếu công chúng một cách hời hợt và thiếu đi những yếu tố có thể khiến nó tồn tại lâu bền với thời gian. Vẫn là một bộ phim có tính giải trí cao nhưng không phải là một bộ phim hay.

2. A Bittersweet Life

http://www.thezreview.co.uk/posters/posterimages/b/bittersweetlifea.jpg


Nếu như Scarface đã trở thành một phim gangster kinh điển của Holywood thì hoàn toàn có thể xem A Bittersweet Life của Hàn Quốc là một phim gangster kinh điển của châu Á. Tớ nghĩ phim này ảnh hưởng của cả Scarface và đạo diễn Takeshi Kitano Nhật Bản (cảnh shootout cuối phim rất gợi nhớ tới các cảnh shootout trong phim Kitano). A Bittersweet Life cũng có hơi hướng hư vô chủ nghĩa (nihilism) và bạo lực dữ dội và bùng phát (ultra-violence) như phim của Kitano. Và cũng như các nhân vật gangster của Kitano, tay gangster Hàn Quốc trong phim A Bittersweet Life (tay này trẻ chứ khong già như nhân vật trong phim Kitano) cũng bướng bỉnh, chỉ đề cao hai thứ là trung thành và danh dự nhưng rồi lại bị sụp đổ (hay trở nên huy hoàng?) bởi tình yêu và/hoặc lòng thương. Nhưng phim của Kitano có tính low-key, ảm đạm (có khi 2/3 phim chả có chuyện gì xảy ra, chỉ thấy mấy tay gangster ngồi trên bãi biển tán phét với chơi vật nhau) trong khi A Bittersweet Life thì stylish và hấp dẫn từ đầu tới cuối. Các pha bắn nhau, đuổi nhau cũng đẹp mắt theo phong cách John Woo hay Johnnie To. Đạo diễn rất biết cách làm chủ nhịp độ trong phim. Hình như là phim gangster thực sự đầu tiên của Hàn Quốc mà tớ xem, nếu không kể bộ ba phim gangster hài “My wife is a gangster”. À có một phim gangster nhưng kiểu punk là Attack the Gas Station xem cũng thú vị.

Blow-Up

iThe image “http://www.marmalade-skies.co.uk/blowup1.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.



Tối qua xem Blow-up để tưởng niệm Michalangelo Antonioni mới qua đời hôm 30/7 (cùng ngày với Ingmar Bergman). Kết luận chẳng hiểu gì cả nên không dám bốc phét nhiều. Vài ý thôi:

- Cinematography đẹp.

- Cảm giác phim này rất có tính hiện sinh, nhưng là một thứ hiện sinh nghiệt ngã và ironic chứ không phải poetic và buồn đau như phim của Ingmar Bergman chẳng hạn. Theme trong phim là sự hoang mang, sự lạ lẫm và cô đơn của con người trong một thế giới như thể được tạo thành bởi các vật thể được ghép lại (và tất nhiên Thượng đế đã chết). Nhân vật chính trong phim lang thang từ chỗ này tới chỗ khác, vô mục đích, và nhanh chóng chán chường với mọi người, mọi thứ. Những thứ khác có thể có (hay không có): sự lẫn lộn giữa thực và ảo, giữa sự tồn tại của cái gọi là sự thực khách quan (?) với những sự thực theo các cách nhìn và vị trí nhìn khác nhau perspective) (you believe what you see or you see what you believe?); vai trò của photography như một cách nhìn khác, một thực tại khác và khả năng phản ánh và thao túng của nó với thực tại; các giá trị của văn hóa đại chúng; sự buồn chán, lạc lõng, chán ghét tất cả (trong đó có cả bản thân) của thế hệ 60.

- Nhiều cảnh quay vừa powerful vừa ironic: Ví dụ cảnh cuối phim khi nhân vật chính cũng nhập cuộc chơi với quả bóng tennis ảo; đoạn anh ta đi nghe nhạc rock rồi tranh cướp khúc thân cây đàn mà ca sĩ trên sân khấu đập nát xong rồi khi đi ra đường thì thản nhiên vứt xuống vỉa hè, một chú khác thấy thế cầm lên xem xem rồi cũng vứt đi; hay đoạn anh ta vào một chỗ các bạn đang xì ke hỏi một cô gái đang phê “I thought you were going to Paris”, cô này trả lời “I am”…

Vài cái khác lượm lặt:
- Nghe nói kịch bản phim này ban đầu là thriller nghiêm túc có cả nhân vật chú ám sát nhưng rồi vì một phần là hết kinh phí, một phần là Antonionio theo phong cách ngẫu hứng khi làm đạo diễn, đạo diễn ngay tại chỗ mà không cần bám sát kịch bản nên cuối cùng bộ phim rẽ sang một hướng khác hẳn, không còn là một thriller thực sự nữa.

- Phim này là phim đầu tiên có cảnh quay nude toàn thân phía trước của phụ nữ. Khi chiếu ở Mỹ, các khán giả Mỹ xếp hàng cả dãy dài vì nghe nói lần đầu tiên sẽ có thể thoáng nhìn thấy public hair (ơ cái này không dịch được ra tiếng Việt nhỉ) của cô diễn viên (hình như cũng nổi tiếng) trên màn ảnh lớn. Trong phim cũng có một cảnh threesome và một cảnh một cô vừa làm tình với một anh vừa nhìn anh hàng xóm đang chõ mắt vào xem bằng một khuôn mặt rất biểu cảm, và rất khó diễn đạt là cô ta đang cảm thấy gì. Nhưng nói thế thôi chứ chẳng có cảnh sex nào explicit cả. So với các phim bây giờ thì tất nhiên là chẳng ăn nhằm gì về đoạn erotic.

The image “http://image.guardian.co.uk/sys-images/Film/Pix/pictures/2006/07/27/blowupArthurEvanscourtesyPhilippeGarner512.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.

The Curious Incident of the Dog in the Night-time

The image “http://images.amazon.com/images/P/0385659806.01.LZZZZZZZ.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.


...là tên một cuốn tiểu thuyết mỏng (200 trang) đầu tay của nhà văn Anh Mark Haddon được xuất bản năm 2003. Cuốn này nhận được hai giải thưởng sách vào hàng quan trọng nhất ở Anh là giải Whitbread Book of the Year (giải này có lẽ chỉ kém giải Booker chút ít về tên tuổi) và giải Commonwealth Writers’ Prize. Cái tên cuốn sách, nghe hơi có vẻ là lạ, được lấy từ lời Sherlock Holmes trong một truyện ngắn của Arthur Conan Doyle. Và như bạn có thể đoán, cuốn tiểu thuyết này có hình thức của một cuốn tiểu thuyết trinh thám.

Nhân vật chính của “The Curius Incident” là Christopher, một cậu bé bị mắc chứng tự kỷ (autism). Cuốn tiểu thuyết được viết theo ngôi thứ nhất, là lời của cậu bé kể, với cách nhìn thế giới xung quanh theo cách nhìn của một người tự kỷ.

Nếu ai chưa biết bệnh tự kỷ là gì thì có thể google để biết thêm chi tiết, ở đây tớ chỉ nói sơ qua là bệnh tự kỷ là một chứng bệnh bẩm sinh khá phổ biến (có lần vào trang webtretho thấy ngạc nhiên về có nhiều người có con bị tự kỷ thế trong một topic về trẻ tự kỷ). Người tự kỷ hầu như không có khả năng cảm nhận được người khác nghĩ gì, cảm giác gì, và gặp rất nhiều khó khăn để có đối thoại được với người khác do họ không đoán được tư duy của người khác, không hiểu được các ngôn ngữ body language cũng như không hiểu được các khái niệm có tính trừu tượng. Đa số người tự kỷ có chỉ số thông minh thấp và gặp khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên cũng có nhiều người tự kỷ lại có thể có chỉ số thông minh cao hơn người bình thường. Và tỷ lệ những người có suy luận bằng hình ảnh và có khả năng tính toán siêu việt (ví dụ có thể nhẩm tính được 2 mũ 30 là bao nhiêu) dựa trên cách xử lý thông tin bằng hình ảnh (những người này gọi là savant) trong số người tự kỷ cũng cao hơn rất nhiều so với người bình thường. Một ví dụ của savant là nhân vật do Dustin Hoffman đóng trong phim Rainman (nhưng anh này là người tự kỷ hay không thì không chắc).

Quay lại với cuốn sách. Câu chuyện bắt đầu khi Christopher phát hiện chú chó nhà hàng xóm bị giết. Vốn hâm mộ Sherlock Holmes, cậu bé tự kỷ quyết định điều tra về cái chết của chú chó này, bất chấp sự ngăn cấm của người cha. Và trong quá trình điều tra, cậu phát hiện ra nhiều điều bất ngờ. Và những bí mật đó đưa cậu đến một chuyến phiêu lưu- một chuyến đi nếu với người bình thường thì chẳng có gì đáng kể nhưng với một người tự kỷ, không hiểu gì về thế giới bên ngoài bản thân mình thì lại đầy những bất trắc và sợ hãi.

Bằng tài năng của mình, Haddon đưa người đọc vào thế giới của Christopher, cảm nhận được những gì Christopher nghĩ. Nhiều quan sát về cách nghĩ của Christopher rất thú vị. Ví dụ Christopher không hiểu được ý nghĩa của ẩn dụ vì chỉ có thể hiểu những gì trực tiếp nhìn thấy hay suy luận bằng logic. Ví dụ khi nghe ai đó nói câu thành ngữ tiếng Anh là “trông chàng ngon nghẻ như trái táo trong mắt nàng” thì Christopher sẽ không hiểu vì không thể hình dung được trái táo trong mắt ai đó thì có ý nghĩa gì?. Christopher cũng không bao giờ nói dối, không phải vì có ý thức gì về đạo đức (với cậu bé, những khái niệm như đạo đức, thậm chí cả tình yêu là quá trừu tượng, và không thể hiểu được) mà vì nếu nói dối, cậu ta sẽ phải hình dung ra những tình huống không tồn tại và điều đó làm cậu ta sợ hãi và đau đầu. Thế nhưng Christopher lại là một savant, có khả năng toán học rất tốt, và dự định một ngày kia sẽ vào Đại học và trở thành một nhà khoa học.

Đọc “The Curious Incident”, người ta dễ liên tưởng tới hai cuốn tiểu thuyết mà vĩ đại của thế kỷ 20, đều kể chuyện bằng ngôi thứ nhất từ những người có troubled mind: Đó là Âm thanh và Cuồng nộ của Faulkner và Bắt trẻ đồng xanh của Salinger. Và có lẽ còn một cuốn thứ ba (cuốn này có lẽ gọi là truyện vừa) cũng vĩ đại không kém là Của chuột và người của Steinberg trong đó một trong hai nhân vật chính là một chàng khổng lồ nhưng có đầu óc của một đứa trẻ (ghi chú: cả ba cuốn này đều đã dịch ra tiếng Việt). Và cũng như các cuốn trên, bên cạnh tài năng kể chuyện thì điều mà “The Curious Incidend” gợi ra là những cảm xúc có tính nhân đạo, xuất phát không phải từ phía những người “bình thường” tới những người “bất bình thường” mà là từ cách nhìn của những người “bất bình thường” về thế giới chung quanh và về những người “bình thường”. Để rồi người đọc nhận ra rằng bên trong những người “bất bình thường” ấy có những vẻ đẹp trong sáng, dễ thương mà chúng ta đã (sẽ) đánh mất và đã (sẽ) hoài nghi: tình yêu trong lành mà anh chàng thần kinh trong “Âm thanh và cuồng nộ” với người chị gái; tình cảm âu yếm cảm động của Holden Caulfield trong “Bắt trẻ đồng xanh” với cô em gái nhỏ hay sự gần gũi đầy thích thú của Christopher với chó và cả với con chuột cống cậu ta nuôi. Chúng ta vẫn bực bội, khó chịu với những đứa trẻ không chịu lớn lên hay những kẻ lập dị do bẩm sinh hay do lựa chọn, không chịu trở thành những người bình thường như chúng ta. Nhưng hẳn là sẽ có đôi lúc nào đó, nhiều người sẽ thầm muốn ước gì mình chỉ như những đứa trẻ, có thể nhìn thế gian bằng một cái nhìn trong lành và đơn giản, không phải cảnh giác và hoài nghi.

Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Mark Haddon (gần đây ông này mới xuất bản cuốn thứ hai). Mark Haddon đã có thời gian làm việc nhiều năm với trẻ em mắc chứng tự kỷ. Những quan sát về người tự kỷ trong cuốn sách này được nhiều chuyên gia về tự kỷ cho là chính xác. Nhưng cũng có một số chi tiết được coi là không đúng, nhất là đối với người tự kỷ savant chẳng hạn cách mà người tự kỷ savant tính toán các con số và phép tính p
hức tạp (ví dụ tính nhẩm ngay lập tức 678 * 715 là dựa trên việc xử lý hình ảnh trong não chứ không phải bằng logic như Christopher trong truyện). Hình như các bạn Nhã Nam cũng sắp dịch cuốn này ra tiếng Việt?

Entry for August 02, 2007

Why Worry

Dire Straits

Baby I see this world has made you sad
Some people can be bad
The things they do, the things they say
But baby I'll wipe away those bitter tears
I'll chase away those restless fears
That turn your blue skies into grey

Why worry, there should be laughter after the pain
There should be sunshine after rain
These things have always been the same
So why worry now

Baby when I get down I turn to you
And you make sense of what I do
I know it isn't hard to say
But baby just when this world seems mean and cold
Our love comes shining red and gold
And all the rest is by the way

Why worry, there should be laughter after pain
There should be sunsh ine after rain
These things have always been the same
So why worry now


yfla.wrap("This multimedia content requires Flash version 9 and above.", "Upgrade Now.", "http:\/\/www.adobe.com\/shockwave\/download\/download.cgi?P1_Prod_Version=ShockwaveFlash", "
Get this widget | Share | Track details ");To view this multimedia content, please enable Javascript.

Wednesday, August 01, 2007

Entry for August 01, 2007

Lâu lắm mới thấy Minnesota có mặt trên Breaking News của tất cả các hãng tin lớn.

7 dead as Mississippi River bridge falls amid rush hour in Minneapolis


(CNN) -- At least seven people were killed when an interstate bridge in Minneapolis, Minnesota, collapsed Wednesday evening, in what the governor called a "catastrophe of historic proportions."

img

Mark Lacroix photographed the collapsed bridge from his apartment window.

img

The accident occurred shortly after 6 p.m. (7 p.m. ET) when dozens of cars were on the bridge.

Witnesses described a "dust cloud" as it collapsed, sending cars and and chunks of concrete plunging into the Mississippi River below.

At least 60 people were taken to local hospitals, said Minneapolis Fire Chief Jim Clack.

Entry for August 01, 2007

Nhạc Trịnh do GT hát, có những bài nghe lần đầu chưa thực sự thấy hay nhưng càng nghe lại càng hay. Mà khi đã thấy hay thì có thể nghe đi nghe lại hàng chục lần không thấy chán.

Ví dụ như bài Lại gần với nhau, bài Da vàng duy nhất trong album mới của GT (trong album cũ cũng có một bài Da vàng là bài Người già em bé).

Trong các bài tôi thích ở album này còn có Lời thiên thu gọi, Hoa xuân ca, Trong nỗi đau tình cờ-những bài nhạc Trịnh mà trước đó tôi ít khi nghe. Và cả hai bài nằm trong số các bài nhạc Trịnh mà tôi thích nhất là Vẫn nhớ cuộc đời và Rừng xưa đã khép.

Bài Lời thiên thu gọi này trước ít nghe nên không để ý lắm, giờ nghe kỹ thấy hay thật, lời cũng rất hay.

Lòng ta có khi tựa như vắng ai
Nhiều khi đã vui cười nhiều khi đứng riêng ngoài
Nhiều đêm muốn đi về con phố xa
Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà

yfla.wrap("This multimedia content requires Flash version 9 and above.", "Upgrade Now.", "http:\/\/www.adobe.com\/shockwave\/download\/download.cgi?P1_Prod_Version=ShockwaveFlash", "
Get this widget | Share | Track details

Get this widget | Share | Track details ");To view this multimedia content, please enable Javascript.

Entry for August 01, 2007

1. Đọc trang Tâm sự của Vnexpress công nhận là một hình thức giải trí rất tốt. ;).



Mải chơi game, tôi đã quên nghĩa vụ với vợ

Lúc trước mình quan hệ đều đặn mỗi tháng 4 lần với vợ, nhưng từ ngày chơi Võ Lâm Truyền Kỳ thì giảm từ từ và có tháng không màng đến. Vì trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến những sự kiện đang diễn ra trong Võ Lâm Truyền Kỳ.
>Sao anh luôn tránh gần gũi vợ?

From: L.Q.K.
Sent: Tuesday, July 31, 2007 9:07 AM
Subject: Sao Anh luôn tránh gần gũi vợ?

Chị Lệ thân mến!

Đọc dòng tâm sự của chị mình hiểu rất rõ vì mình cũng là người trong cuộc như chuyện của chị, những khác phái.

Số là lúc trước mình cũng quan hệ tình dục đều đặn mỗi tháng 4 lần với vợ, nhưng từ ngày mình chơi Võ Lâm Truyền Kỳ thì giảm từ từ và có tháng mình không màng đến. Vì trong đầu lúc nào cũng nghĩ đến những sự kiện đang diễn ra trong Võ Lâm Truyền Kỳ.

Những lúc không chơi thì mình cứ mong có người nào đó bên cạnh để tìm tòi những chiêu thức trong game. Chính vì vậy mà trong cuộc số vợ chồng mình lại sao lãng đi, nhiều khi nằm bên vợ mà mình cứ tưởng có một mình. Vì lúc đó là mình cần sự yên tĩnh để nhớ lại những chiêu thức làm sao mình đánh thua người này người kia.

Nhưng được thời gian thì mình nhận biết được điều đó. Giờ đây vợ mình lại không còn mặn nồng với chuyện quan hệ nữa. Mình nghĩ không biết có phải là do lỗi của mình nữa không. Vì gần 1 năm qua mình đả bỏ bê cuộc sống vợ chồng.

Các threads khác

Sao chồng luôn tránh gần gũi Lê? (31/07)
Chồng chị Trinh lén lút lấy vợ khác (30/07)
Bạn trai đe dọa giết Hồng (26/07)
Mai mặc cảm tội lỗi mỗi khi ân ái với chồng (24/07)
Hãy giúp Ngân tố cáo kẻ cưỡng dâm (18/07)
Thắng liên tục bị bạn gái đánh (17/07)
Trà liên tục bị chồng đánh (13/07)
Trúc sững sờ phát hiện chồng lén dùng viagra (11/07)
Hoa yêu song không dám kết hôn với người góa vợ (10/07)
Uyên mệt mỏi vì bạn trai ghen tuông (07/07)
Chồng Lan dẫn gái về nhà (04/07)
Ngọc ám ảnh vì cha quấy rối (02/07)
Trái tim Quang đóng băng sau mối tình đầu (27/06)
Chồng Thu rất vô trách nhiệm (27/06)
Chồng chị Giang quan hệ với sinh viên (25/06)
























2. Đọc blog bác cavenui có đoạn này bác trích báo Việt Nam, mà lại là báo Văn nghệ thành phố HCM nữa chứ. Cũng buồn cười không kém chuyện tâm sự của anh mải chơi game quên sex.

"Ví dụ 1 đoạn trong bài “Khai thác kinh doanh sách nhạy cảm- hậu quả khôn lường” của Tâm Minh (chẳng biết là nick ảo của cao thủ văn lâm nào) trên tờ Văn nghệ TP.HCM số 15 bộ mới ra ngày 7/6:

“Sách sex hay gọi đúng tên của nó là sách đồi trụy cũng là 1 mảng thị trường hấp dẫn mà nhiều đơn vị phát hành và NXB đang tìm mọi cách để đào sâu, bới kỹ. Về sách sex của các tác giả trong nước, ngoài Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu mà tính đồi trụy của nó đạt mức độ nhờm gớm (chưa kể đến việc ám chỉ về chính trị quá lộ liễu) đã bị báo chí lên án và giới xuất bản trong nước gọi đây là sự kiện xuất bản thì các tác giả khác cũng còn nhiều dè dặt vì sợ bị đánh. Nhưng với các tiểu thuyết dịch thì sex vô tội vạ: Rừng Na Uy của Haruki Murakami với các nhân vật trẻ cứ gặp nhau là nói chuyện tình dục, là sờ mó, là làm tình. N.P của Banana Yoshimoto thì mổ xẻ tâm lý, “tình yêu” của con với cha ruột, của anh em ruột và sự tự sát dây chuyền của các nhân vật. Hạt cơ bản của Michel Houellebecq thì phơi bày toàn cảnh bộ mặt của phong trào giải phóng tình dục tại châu Âu vào giữa thế
kỷ trước với đầy rẫy các cảnh làm tình nhầy nhụa mà lẽ ra cuốn sách này chỉ nên được xuất bản dưới hình thức tài liệu để tham khảo theo Điều 22 của Luật Xuất bản hiện hành (xuất bản tài liệu không kinh doanh). Có lãnh đạo của 1 NXB nói với tôi rằng đối tác của họ (tức đơn vị phát hành sách) còn có nguyên 1 bộ phận chuyên theo dõi trên mạng xem cuốn sách nào đang nóng hổi và giật gân nhất thì họ sẽ tiếp cận, mua bản quyền và thuê người dịch”."